Chùa Ân Quang – Hà Nội

0
274
  • Tên gọi : Chùa Ân Quang
  • Tọa lạc : thôn Kim Quan, xã Việt Hưng, huyện Gia lâm, Hà Nội
  • Năm xây dựng : 1498-1504
  • Người xây dựng : Đô úy Lê Đạt Chiêu

Chùa ở Thôn Kim Quan, xã Việt Hưng, huyện Gia lâm, Hà Nội . Chùa có từ cuối thế kỉ 15 và đầu thế kỉ 16 cùng với việc lập ấp của vị phò mã Đô úy Lê Đạt Chiêu, tước Lâm Hoài Bá triều Lê Hiến Tông (1498-1504) đưa dân ở Bạch Thổ (nay là vùng Giang Cao, Bát Tràng) về đây khai hoang khẩn hóa.

Đất chùa xưa khá rộng, vườn cây rậm rạp, chim – xập xoè bay liệng, cảnh rất thanh u. Qua Tam bảo Là cân lát gạch Bát Tràng, đến chùa chính, hai bên là nhà Tổ và điện Mẫu… Vườn chùa có ngôi tháp mộ của sư Tổ trụ trì, trên đỉnh tháp mộ là một nậm rượu được ghép bằng các mảnh chén bát sứ Giang Tây.

| Chùa còn giữ được 19 pho tượng: Tượng A Di Đà cao 1,42m tạc bằng gỗ, sơn son thếp vàng ngồi kiết già. Tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí cao 1,35m tạc ở thế đứng. Đặc biệt là toà Cửu Long cao 1,12m chạm khắc 9 rồng phun nước và có nhiều tượng phật | nhỏ – Giữa toà Cửu Long là Thích Ca sơ sinh đứng trên toà sen.

| Các pho tượng trên tạo thành một thế giới riêng của Phật giáo và cũng là những công trình điêu khắc có giá trị mang dấu ấn của thế kỷ 17.

| Chùa còn giữ được một quả chuông cao 1,08m, đường kính 0,54m, đúc vào thời Khải Định 4 (1919), trên chuông có ghi rõ tên các thiện nam tín nó thôn và khách thập phương công đức và một minh ca ngợi. Bia đá hiện còn 6 tấm hầu hết vào thời Nguyễn, từ Duy Tân (1911) đến Bảo ) (1931). Qua những tấm bia đá được biết rõ một th hưng thịnh của chùa Ấn Quang, có 4 họ lớn tụ cư và chung sức tôn tạo chùa, đặc biệt là họ Đinh và vị Thiền sư đã khai sáng tổ đường các toà và tam quan.

Trải bao cuộc thăng trầm hưng phế chùa không còn nguy nga tráng lệ những nét cổ kính phần nàocòn giữ được ở những mảng chạm trúc hóa long, . rồng, lá ở những pho tượng và trên đỉnh tháp mộ…

Hội làng được mở vào mồng 8 tháng 2, có rước kiệu, rước nước – nước lấy từ giếng thơi ở giữa làng, phải bắc cầu qua giếng để kiêu khênh ra được, trên kiệu là choé đựng nước. Quanh giếng là cơ quạt đủ màu sắc, trống chiêng rộn rã và người đi lễ đi xem tấp nập, làng quê sống động hẳn lên. Cảnh tượng rước nước phản ánh rõ đời sống của cộng đồng làng xã chuyên canh về lúa nước của một thời xa xưa, âu cũng là một nét đẹp truyền thống của Kim Quan.


BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên đăng nhập