Chùa Chúc Thánh- Hội An Quảng Nam

0
26
  • Tên gọi : Chùa Chúc Thánh.
  • Tọa Lạc: Cẩm Phô, Hội An, tỉnh Quảng Nam.
  • Năm xây dựng : thế kỷ XVII.
  • Người xây dựng : Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo.

Chùa Chúc Thánh tọa lạc tại Cẩm Phô, Hội An, tỉnh Quảng Nam, là nơi khai sinh ra chi phái Thiền Chúc Thánh của Thiền Lâm Tế. Theo sách Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, chùa Chúc Thánh đã được Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo khai sơn vào thế kỷ XVII. Vị Thiền sư này người tỉnh Phước Kiến, sang nước ta vào thời Chúa Nguyễn Phúc Trân (1687 – 1691). Ông đã tự giới đàn tại chùa Linh Mụ, sau đó vào Hội An dựng chùa Chúc Thánh. Dần dần ngôi chùa này trở nên một ngôi tổ đình lớn ở miền Trung và miền Nam.

Chùa được xây theo mô hình chữ tam, có phong cách kiến trúc tổng hợp của truyền thống Trung Quốc và Việt Nam với nhiều tư­ợng lớn, trạm trổ cầu kỳ. ở chính điện thờ Tam Thế Phật, Di Lặc, 18 vị La Hán, tr­ước sân có t­ượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Ngoài ra trong chùa còn có nhiều ngôi tháp của Tổ s­ư Minh Hải, thiền sư­ Thiết Thọ (đời 35), ấn Bích (đời 39), Thiện Quả,…Từ đó đến nay chùa đã được trùng tu 2 lần vào năm 1956 và năm 1964.

Tam quan mới

QUÁ TRÌNH KHAI SÁNG VÀ TRÙNG TU TỔ ĐÌNH CHÚC THÁNH.

1. Địa thế, phong thủy

Từ Đà Nẵng về Hội An theo đường Non Nước khoảng 30 km, lúc chưa đến Hội An khoảng 1km nhìn qua phía tay trái có một con đường thẳng nằm giữa nhà hát lớn Hội An và trường Trung học Điện, đi vào hết con đường này khoảng 300m là chùa Chúc Thánh, tọa lạc ngay giữa cuối con đường. Địa thế chùa Chúc Thánh nằm quay mặt về hướng Tây – Nam, nằm gọn trên một vùng đất cao thoáng thuộc khối Tân hòa phường Tân An, Hội An ( trước là phường Cẩm phô hay làng Thanh Hà, huyện Diên Phước phủ Điện Bàn), cách trung tâm phố cổ Hội An về hướng Bắc khoảng 1km.

Nơi đây vào những năm 1987, 1988 vẫn còn là nơi thanh tịnh vắng vẻ, chung quanh ngôi chùa nhìn về xa xa chỉ thỉnh thoảng vài ngôi nhà dân, còn lại đa số là những khu rừng thông, những cồn cát trắng và những ngôi mộ xưa. Hàng rào chùa dày từ 8 đến 10m, được tạo nên bởi nhiều loại cây xanh mát. Đứng trong khu vườn chùa, mọi người sẽ có cảm giác như ngôi chùa đang ở giữa khu rừng nguyên sinh đầy hương thơm cỏ lạ, chim chóc 4 mùa hội tụ. Có thể nói đây là một môi trường sinh thái tốt, thanh tịnh, phù hợp với cảnh thiền môn.

Theo phong tục người Trung Hoa thì họ đến đâu thường hay lập chùa, miếu để thờ cúng cầu nguyện mưa thuận gió hòa, nhân dân an cư lạc nghiệp. Như đã trình bày, cùng với thời điểm chùa Chúc Thánh ra đời, Hội An là một thương cảng trù phú, những thương nhân đến từ nước ngoài chủ yếu là người Hoa và coú một số người trong họ đã định cư ở đây. Vì vậy, Tổ Minh Hải sau khi quyết định ở lại tại Hội An hoằng Pháp, Ngài chọn ra một nơi để tạo lập chùa Chúc Thánh với khoảng cách lý tưởng khoảng 1km không gần lắm cũng không xa lắm so với trung tâm phố cảng. Địa thế này nhằm 2 mục đích: Một là, nơi yên tĩnh vắng vẻ, điều kiện tu hành thiền định thích hợp và hai là, không xa lắm nơi dân cư, để tạo điều kiện cho những người dân ở đây có thể bước bộ đến chùa lễ Phật tụng kinh. Cũng từ lòng tín ngưỡng Phật giáo mạnh của người dân Việt và  Hoa kiều tại đây mà ngôi Tổ đình Chúc Thánh cũng trở nên phong phú về nhiều mặt, phong phú từ lối kiến trúc đến cách thờ phụng, như ngoài việc thờ Phật chính trong Chánh điện, ngoài vườn còn lập miếu Ông, miếu Bà để thờ các Thần Thành Hoàng, Thổ Địa để cho những người đến cầu xin được phù hộ mua may bán đắt, đi đến nơi về đến chốn. Đấy là những tín ngưỡng thuần túy tính nhân gian.

Mặc dù ngày nay chung quanh bên ngoài chùa Chúc Thánh không còn những bãi cát, những đồi thông xanh rì vi vu trong gió nữa, đến chùa không còn phải băng bộ qua những đoạn đường cát nữa, mà thay vào đó là những ngôi nhà đồ sộ và con đường đất cứng vì nhu cầu dân số và phát triển đô thị. Nhưng bên trong vườn chùa vẫn còn giữ được dáng vẻ cổ kính, hàng cây cổ thụ vẫn còn đó, hình ảnh ngôi chùa vẫn cổ kính rêu phong, những lớp bụi thời gian không thể nào xóa nhòa đi được.

2. Ý nghĩa tên ngôi Tổ đình.

Tên ” Chúc Thánh” có từ lúc Tổ Minh Hải đặt chân đến khai sơn ngôi chùa. Về mặt ý nghĩa 2 chữ Chúc Thánh  có 2 cách giải thích sau đây:

Một là, từ nữa thế kỷ 17, các Chúa Nguyễn Đàng Trong trọng đãi Phật giáo nói chung và ngài Minh Hải nói riêng, nên khi lập chùa, ngài Minh Hải muốn thể hiện tình cảm của mình đối với các chúa Nguyễn bằng cách đặt tên cho ngôi chùa là Chúc Thánh (tức chúc cho Thánh Thượng được mọi điều tốt lành).

Hai là, lúc bấy giờ tại Trung Quốc cũng có một ngôi chùa tên Chúc Thánh. Vì vậy, Ngài Minh Hải sau khi đến Việt Nam khai sơn ngôi chùa đặt lại tên Chúc Thánh là để làm kỷ niệm nhớ lại quê hương xứ sở của mình.

Hai cách giải thích tên Tổ đình Chúc Thánh trên, ý nghĩa nào cũng có phần hợp lí. Nhưng cách giải thích thứ 2 thì chưa có cơ sở để chứng minh được. Vậy tạm thời có thể hiểu theo cách giải thích thứ nhất là ” Chúc cho Thánh Thượng được mọi điều tốt lành” nói gọn là ” Chúc Thánh”. Ý nghĩa này cũng trùng lặp câu thứ 3 trong bài kệ của Ngài truyền tại Chúc Thánh:” Chúc Thánh thọ thiên cửu” (Chúc Thánh Thượng muôn tuổi).

Tam quan mới

3. Quá trình khai sáng và trùng tu.

Như đã trình bày, Tổ đình Chúc Thánh do thiền Sư Minh Hải – Pháp Bảo thuộc thiền phái Lâm Tế đời 34 từ  Trung Quốc sang khai sáng vào cuối thế kỷ  XVII.

Thiền sư Minh Hải từ Quảng Đông Trung Quốc theo phái đoàn Ngài Thạch Liêm đến Việt Nam  để  dự  Đại giới đàn tại Huế vào năm Ất Hợi (1695 ). Sau khi giới đàn xong, Ngài Thạch Liêm cùng phái đoàn lưu lại Thuận Hóa đến năm 1696 mới trở về lại Trung Quốc.

Sau khi Ngài Thạch Liêm về nước, Ngài Minh Hải ở lại Hội An qua năm sau (1697) khai sơn Tổ đình Chúc Thánh tại xã Cẩm Phô (nay là thị xã Hội An) (6.91)

Tương truyền, vào thời Ngài Minh Hải, chùa Chúc Thánh chỉ là một ngôi chùa nhỏ đơn sơ. Tại đây, Ngài đã hoằng pháp lợi sanh, tiếng vang khắp mọi nhà. Ngài đã biệt xuất kệ truyền thừa, tạo nên một pháp phái Lâm Tế  riêng tại Hội An. Sau này, các thế hệ truyền thừa của Ngài đã không ngừng phát huy đạo Pháp và phát triển kiến trúc ngôi Tổ Đình thật qui mô và bề thế như ngày hôm nay.

Tổ đình Chúc Thánh sau Ngài Minh Hải hai đời ( Ngài Thiệt Diệu và Ngài Đại Dõng ), vào năm Âút Mùi (1845), Ngài Toàn Nhâm (Vi Ý) khởi công đại trùng  tu và chuyển hướng ngôi chùa từ hướng Tây sang hướng Tây – Nam để phù hợp với địa thế phong thổ. Qua 4 năm sau (1849), Ngài tiếp tục khởi công xây thêm Tiền đường làm tăng gấp đôi diện tích trong Chánh điện. Đến  năm Nhâm Thìn (1892), Hòa Thượng Chương Đạo hiệu Quảng Viên trùng tu lại Tiền đường qui mô hơn. Năm Giáp Ngọ (1894), Hòa Thượng  Chương Khoáng hiệu Chứng Đạo đời thứ 38 và phó trú trì hiệu Quảng Đạt xây dựng thêm ngôi Hậu Tổ. Năm Ất Hợi(1911), Hòa Thượng trú trì húy Ấn Bính hiệu Phổ Bảo đời thứ  39 lại khởi công đại trùng tu ngôi Chánh điện, nâng nền Tiền đường lên cao hơn và xây thêm các dãy Đông đường, Tây đường. Những công trình lần này gần như cố định và qui mô cho đến ngày nay. Từ các năm 1954 đến 1960, Hòa Thượng Tăng cang húy Chơn Chứng hiệu Thiện Quả đời thứ 40 tiến hành trùng tu từng phần, khiến ngôi chùa trở nên hoàn mỹ hơn. Năm Tân Mùi (1991), Hòa Thượng Như Truyện hiệu Trí Nhãn tiếp nối trú trì đời thứ 40 (đang trú trì hiện nay) trùng tu lại ngôi tháp Tổ từ 3 tầng lên 7 tầng, góp phần tăng thêm vẻ đẹp trong khuôn viên chùa (1.1).

Khu hoa viên chùa Chúc Thánh

Chùa Chúc Thánh xoay mặt về hướng Tây Nam cách trung tâm phố cổ Hội khoảng 1km về phía Bắc. Khuôn viên chùa được bao bọc bởi một lớp hàng rào bằng cây dày độ khoảng 3m. Vì thế, Chúc Thánh vẫn còn giữ được không khí u tĩnh của một ngôi cổ tự mặc dù bên ngoài đang nhộn nhịp với sự đô thị hóa. Trong vườn chùa có khoảng vài chục ngôi tháp, nơi lưu giữ nhục thân của Tổ khai sơn cũng như chư Tăng trong môn phái.

Hiện tại chùa còn lưu giữ nhiều pho tượng cổ quý hiếm cũng như các kinh sách xưa rất có giá trị về mặt lịch sử và học thuật. Điều này phần nào đó cũng cho chúng ta thấy được tinh thần tu học của chư Tăng nơi chốn Tổ từ trước đến nay.

Tháp đôi chùa Chúc Thánh

Chùa Chúc Thánh quay mặt vêì hướng Tây-Nam nằm trên một mảnh đất thoáng mát với chiều rộng 130m và chiều sâu 96m. Nhìn từ ngoài vào, ngôi chùa nằm lặng dưới những táng cây cổ thụ rợp mát, tạo nên một dáng vẻ trầm hùng, thanh tịnh. Xung quanh chùa được bao bọc bởi một dãy cây đủ loại, bốn mùa đơm hoa kết trái, ong bướm tới lui, chim chóc làm tổ. Khung cảnh thanh bình này được kết hợp giữa thiên nhiên và con người, nó đã làm lắng đọng biết bao tâm tư phiền muộn của những con người bị thất bại trên trường danh lợi và cũng là cái nôi đã nuôi lớn biết bao anh tài đóng góp xây dựng đạo Pháp, dân tộc, ảnh hưởng đến  ngày nay. Vào những đêm trăng thanh gió mát, khung cảnh của chùa lại trở nên mênh mông, quạnh hiu và cô tịch hơn.

Chính điện chùa Lâm Tế Chúc Thánh

Chính điện

Từ khi Tổ Minh Hải khai sơn, chùa Chúc Thánh đã trải qua 300 năm và 12 đời trụ trì như sau:

01. Đời 34: Ngài Minh Hải-Đắc Trí-Pháp Bảo.

02. Đời 35: Ngài Thiệt Diệu-Chánh Hiền.

03. Đời 36: Ngài Pháp Diễn-Bảo Tràng

04. Đời 37: Ngài Toàn Đăng-Bảo Nguyên.

05. Đời 37: Ngài Toàn Nhâm-Vi Ý-Quán Thông.

06. Đời 38: Ngài Chương Đạo-Tuyên Tùng-Quảng Viên.

07. Đời 38: Ngài Chương Khoáng-Tuyên Điền-Chứng Đạo.

08. Đời 39: Ngài Ấn Bính-Tổ Thuận-Phổ Bảo.

09. Đời 40: Ngài Chơn Chứng-Đạo Tâm-Thiện Quả.

10. Đời 40: Ngài Chơn Nhật-Đạo Chiếu-Quang Minh.

11. Đời 41: Ngài Như Truyện-Giải Lệ-Trí Nhãn.

12. Đời 43: Ngài Đồng Mẫn-Thông Niệm-Huệ Tánh

Từ Chúc Thánh, các đệ tử cũng như các pháp tôn nhiều đời của Ngài đã đem ánh sáng chánh Pháp hoằng truyền khắp mọi nơi. Từ Quảng Nam trở vào đến các tỉnh miền Nam đều có dấu chân hành hóa của chư Tăng thuộc thiền phái Chúc Thánh, không chỉ trên quê hương Việt Nam, các Ngài còn đem ý chỉ của Tổ truyền bá khắp các quốc gia thuộc Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc.

Hằng năm, vào ngày mồng 7 tháng 11, chư Tăng tại Quảng Nam-Đà Nẵng đều vân tập về Chúc Thánh tưởng niệm ngày viên tịch của Tổ khai sơn. Đặc biệt 3 năm một lần, vào các năm Dần, Tỵ, Thân, Hợi, chư Tăng thuộc môn phái Chúc Thánh khắp các nơi trong nước đều tổ chức về nguồn dự lễ húy nhật Tổ sư cũng như họp bàn các công tác Phật sự của tông môn.

Chúc Thánh vẫn mãi là một tổ đình để các thế hệ Tăng Ni Phật tử quy ngưỡng. Đây là một danh lam mà mỗi người con Phật nên đến hành hương chiêm lễ mỗi khi có dịp về thăm đất Quảng Nam.

Kiến trúc nội điện

Sân sau chùa

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here