Chùa Đại Bi – Hà Nội

0
56
  • Tên gọi : Chùa Đại Bi, Chùa Bối Khuê
  • Tọa lạc: Xã Bối Khuê, Thanh Oai, Hà Tây.
  • Năm xây dựng : 1338
  • Người xây dựng : Công Chúa Thánh Chân
  • Phong Tặng : Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Chùa có thờ Minh Đức Chân Nhân họ Nguyễn tên húy là Nhữ Tự Bình An của bản xã, trụ trì ở chùa Quảng Nghiêm.Tương truyền Chân Nhân mồ côi từ 3 đi ở chăn trâu cho cậu mợ, bản tính hiếu nơ đem cả ốc bắt được thả xuống sông, lại – Chơi trò thờ cúng. Lớn lên xuất gia tu hành đắctăng độ theo thụ giáo rất đông. Chân Nhân khởi – chùa Quảng Nghiêm quy mô to lớn, có tiếng ở- Sơn Tây. Vua Trần Nhân Tông với ông về triều ấn kiến, ban pháp hiệu là Minh Đức chân nhân. Ít lâu sau Chân Nhân sai làm một cái hòm gỗ rồi vào ngồi trong đó đậy nắp lại, căn dặn tăng đồ 100 ngày mới được mở ra. Đến hạn đệ tử mở ra thấy chân Nhân ngồi như Tượng, mùi thơm sực nức. Dân làng xin rước tượng Chân nhân về quê lập am thờ. Đời Hậu Trần, từng hiển linh làm trận mưa máu giết sạch giặc Minh xâm lược.

Chùa được Công chúa Thánh Chân bỏ tiền ra vuc chuông đồng năm Khai Hựu 10 (1338). Đời Hồ, Chuông bị mất, năm Thái Hoà 7 (1452) quan Điện nội An trị sự kiêm Tri bảo tàng Bùi Hùng tìm chuộc. Đến năm Hồng Thuận 7 (1515) Ky uý Đỗ Công 4 người bản xã đứng ra trùng tu, đến năm Minh 3 (1529) lại được trùng tu, tô tượng Phật làm cho cơ ngơi trở nên khang trang đẹp đẽ. Khách thập phương đến lễ bái rất đông, dân cầu điều gì đều linh ứng. Bà Nội cung tần Nguyễn Thị Ngọc Hân hiệu Diệu Huy người xã Xíc Đằng, huyện Kim Động , phủ Khoái Châu đã tậu ruộng ở xã Hòa Liễu gồm 6 mẫu và 2 vatah vàng tiến cúng cho chùa.

Tư liệu khác:


Chùa thường gọi là chùa Bối Khê, tọa lạc ở xã Bối Khê nay là xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Chùa Bối Khê được xây dựng vào thời Trần, khoảng năm 1338. Kiến trúc ngày nay là của những lần trùng tu vào thế kỷ XVIII và vào năm 1923.

Từ ngoài vào, phía trước chùa là một bãi đất rộng, nơi sừng sững một cây đa cổ thụ đầu làng. Ở đây, chúng ta thấy một cổng lớn, đó là cổng  chùa và cũng là cổng làng. Một con rạch nhỏ phía sau cổng, ngày xưa là dấu tích của dòng sông Đỗ Động, có cây cầu nhỏ bắc ngang.

Qua cầu, chúng ta bước đến tam quan của chùa. Tam quan có hai tầng tám mái, tầng trên  treo quả đại hồng chung.

Chùa kiến trúc theo kiểu “Nội Công Ngoại Quốc”. Phía trước thờ chư Phật, phía sau thờ Thánh, hai dãy hành lang hai bên, mỗi dãy bảy gian, đặt tượng Thập bát La-hán. Các dãy nhà quây quanh bốn phía, bọc tòa thượng điện và nhà thiêu hương ở giữa. Tòa thượng điện dựng trên nền cao, cột to và thấp, đầu đao góc mái uốn cong thanh thoát. Các bộ phận kiến trúc bằng gỗ được chạm trỗ khá công phu, mang dấu ấn nghệ thuật điêu khắc trang trí thời Trần, nhất là những đầu bẩy chạm rồng ở hàng hiên được đỡ bằng những cột vuông bằng đá. Đặc biệt, có một đầu bẩy ở góc mé trái, ngoài hình rồng còn chạm hình chim thần.

Chùa còn giữ được nhiều di vật cổ. Phía trong cùng tòa thượng điện đặt  một bệ đá Tam Thế có từ thời Trần, cao 1,16 m, ngang 2,5 m, sâu 1,16 m. Bệ đá có dáng của một khối chữ nhật lớn, chia làm ba phần: phần trên cùng là một đài sen lớn; phần giữa là thân bệ có nhiều gờ nổi, mặt trưóc chia ô chạm rồng mây, hoa lá…, bốn góc có bốn con chim thần (garuđa); phần dưới cùng là chân bệ làm theo kiểu sập chân quỳ dạ cá. Trong chùa có mấy cây đèn bằng gốm thời Mạc, đặc biệt ở thượng điện có tôn trí pho tượng Bồ-tát Quan Thế Âm được tạc vào thế kỷ XVI. Chùa có nhiều tấm bia ghi quá trình xây dựng và sự tích đức Thánh Bối, cổ nhất là bia Bối Động thánh tích bi ký, có niên đại giữa thế kỷ XV.

Cách một khoảng sân sau tòa thượng điện, nhà thờ Minh Đức chân nhân là một công trình kiến trúc bằng gỗ tuyệt đẹp với hai tầng tám mái. Theo sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), thì Ngài họ Nguyễn, húy là Nữ, tự Bình An, tu hành đắc đạo, tăng đồ theo thụ giáo rất đông. Trong sách Lĩnh Nam chích quái ghi sự tích của ông với nhiều phép lạ, có thể làm ra mưa, gọi ra gió. Truyền thuyết kể rằng, vào thế kỷ XV,  quân Minh xâm lược nước ta, có một toán giặc kéo tới chùa Trăm Gian (tức Quảng Nghiêm Tự ở Hà Tây ngày nay) phá tháp, đốt chùa. Trước việc làm ngang ngược đó, đức Thánh Bối nổi giận hóa phép làm ra một trận mưa dài ba ngày đêm, nước đỏ như máu, dâng cao tới ba thước, dìm chết hết lũ giặc gây tội ác.

Hằng năm, chùa mở hội lễ vào ngày 12 tháng giêng (âm lịch), dân chúng xa gần kéo đến lễ Phật, lễ Thánh và tham dự các trò vui dân gian như thi đánh cờ người, bịt mắt bắt dê, nghe hát chèo…

Trong khuôn viên chùa, có nhiều cây cổ thụ, vườn hoa cây cảnh xen giữa những cụm kiến trúc làm tôn lên vẻ u tịch của chốn thiền môn.Chùa Bối Khê là một danh lam cổ tự ở nước ta. Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên đăng nhập