Chùa Dâu – Bắc Ninh

0
18
  • Tên goi: Chùa Dâu,Chùa Diên Ứng, Chùa Thiền Định, Chùa Pháp Vân.
  • Tọa lạc: Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh, Việt Nam.
  • Năm xây dựng: Thế kỷ thứ II.
  • Người xây dựng: Sư A Đà La.
  • Công nhận : Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin  công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Chùa có từ thế kỷ thứ II. Khoảng cuối đời Tây Hán có sư A Đà La ở Tây Trúc vân du tới trị sở của Sĩ Nhiếp ở thành Liêu Lân (tức Luy Lâu), được một người mộ đạo mời về nhà ở hương Siêu Loại giảng đạo.Nhà có cô gái 20 tuổi, tên gọi là Mang Nương hàng ngày vẫn nghe A Đà La giảng về đạo lý nhà Phật.Sư A Đà La còn dạy cho nhà Mang Nương và dân làng cách tìm mạch đào giếng lấy nước ăn. Sau đó ít lâu sau tự nhiên Man Nương hoài thai, sau 14 tháng sinh con gái. Nàng bế con vào núi tìm A Đà La để trả đứa bé. A Đà La đặt cho đứa bé là Đà La Tử rồi niệm chú, hô cây rừng nhờ chăm sóc. Một cây đại thụ bổng tách đôi ra , A Đà La đặt đứa bé vào trong thân cây, hai mảnh cây liền ghép lại. Ít lâu sau, cây đại cổ thụ bị bão giật đổ và nước lũ cuốn trôi đến bên thành Liêu Lâu. Dân chúng thấy cây gỗ phát ra hào quang và mùi thơm ngát bên trình Thái Thú Sĩ Nhiếp.Lấy làm lại, Sĩ Nhiếp sai lực sĩ kéo lên bờ nhưng không sao kéo nổi. Man Nương vừa đi đến thấy vậy chỉ kéo nhẹ là cây gỗ lăn lên bờ. Đêm ấy Sĩ Nhiếp mộng thấy Thần nhân đến ngỏ muốn được tạc tượng thờ. Sáng hôm sau Sĩ Nhiếp sai thợ xẻ cây tạc 4 pho tượng, thợ xẻ thấy trong cây có hòn đá lạ đếm ra bờ sông rửa cho sạch, không ngờ lỡ tay rơi xuống nước. Tạc xong 4 pho tượng, Sĩ Nhiếp đến hoàn công. Năm ấy hạn hán Sĩ Nhiếp bèn bầy 4 pho tượng ra để làm lễ cầu đảo. Lễ xong thấy mây đen kéo giật rồi mưa đổ xuống trong tiếng sấm rền chớp giật. Do đó, Sĩ Nhiếp đặt 4 pho tượng là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện,Pháp Lôi. Rồi cho rước tượng Pháp Vân về thờ ở chùa Thiền Định, tượng Pháp Vũ thờ ở chùa Thành Đạo, Tượng Pháp Lôi thờ ở chùa Phi Tướng, tượng Pháp Điện thờ ở chùa Trí Quả. Khi rước duy chỉ có tượng Pháp Vân quá nặng không sao khiêng nổi, Sĩ Nhiếp cho mời Man Nương, mời ra bờ sông lấy hòn đá về đặt trước tượng Pháp Vân thì tượng lại khiêng nhẹ nhàng. Mọi người biết cây gỗ chứa đứa con A Đà La bèn gọi hòn đá là Thạch Quang Phật. Ở chùa có gò đất cao là mộ A man hay mộ Phật mẫu sau dựng chùa riêng là chùa Phật Man.

Truyền thuyết trên cho biết chùa Thiền Định là ngôi chùa cổ nhất nước ta, đã có thời Bắc thuộc. Đến năm 580, Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi người Ấn Độ vào nước ta đến đây đã thấy có Quán Duyên Thiền sư Nam Việt đang giảng Phật pháp ở chùa này. Tỳ Ni Đa Lưu Chi chọn Pháp Hiền làm đệ tử mở đầu cho Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi. Đời Lý, chùa được sửa sang. Đời Trần, vua Trần Anh Tông sai Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi trông coi tư sửa dựng trăm gian, tháp 9 tầng, cầu 9 nhịp… vào năm 1313. Các triều đại tiếp theo cũng nhiều lần tu sửa như năm 1675, năm 1716,1727,1738 đời Lê, năm 1793 đời Tây Sơn…. đúc chuông sửa tầng thượng tháp Hòa Phong, dựa bia, tạc tượng Kim Đồng,Ngọc Nữ. Tượng Kim Đồng có kích thước như người thực, tượng Ngọc Nữ cao 1,57m có hình thể phụ nữa rất đẹp, đầu vấn khăn rũ ra một đoạn tóc đuôi gà, mặt trái xoan, lông mày thanh tú,mắt sắc lá dăm, mũi thẳng , môi mỏng đỏ tươi, cổ cao ba ngấn, ngực áo đầy hoa, thắt bao lưng, khiến cho bộ ngực nở nang, dáng hình mềm mại….

Hằng năm hội chính của chùa vào ngày Phật đảng. Trong ngày hội có lẽ dâng hương ở bàn thờ Bà Dâu là vị thần chủ về việc tầm tang (trồng dâu nuôi tằm). Ngày hội thật là tấp nập:

Dù ai đi đâu về đâu

Hễ trong thấy tháp chùa Dâu thì về

Dù ai buôn bán trăm nghề

Nhớ ngày mồng Tám thì về Hội Dâu.

Chùa Diên Ứng (Dâu) gắn liền với lịch sử Phật giáo nước ta và có vị trí nổi bật. Nhiều nhà sư nổi tiếng đã từng trụ trì ở đây: Mâu Bác (thế kỷ II). Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương (Thế kỷ III), Ma La Kỳ Vực (thế kỷ IV), Tì Ni Đa Lưu Chi (580-591), Quán Duyên Pháp Hiền…

Bên gian trái của thượng điện có pho tượng của một người đàn ông đứng tuổi, được coi là Mạc Đỉnh Chi, một trạng nguyên thời Trần người cho xây dựng lại ngôi chùa này.Tượng được đặt trên một bệ gỗ hình sư tử đội tòa sen, có thể có niên đại thế kỷ XIV. Trước chùa có một ngôi tháp 3 tầng xây bằng gạch cao khoảng 17m , gọi là tháp Hòa Phong.Tương truyền là tháp cao đến 9 tầng. Mặt trước tầng 2 có gắn bảng khắc chữ “Hoàng Phong tháp”.”Hoàng Triều Vĩnh Hựu tam niên tế thứ Định Tỵ trọng thu cốc nhật”(ngày tốt, tháng tám, năm Đinh Tỵ niên hiệu VĨnh Hựu thứ 3 (1737)).Hẳn đây là giao đoạn trùng tu tháp.Chân tháp vuông, mỗi cạnh gần 7 m. Tầng dưới có bốn của vòm. Trong tháp, treo quả chuông đồng đúc năm 1793 và một chiếc khánh đúc năm 1817. Có 4 pho tượng Thiên Vương cao 1,6m ở 4 gốc. Trước tháp, bên phải có tâm bia vuông, dựng năm 1738, bên trái có một con cừu đá, dài 1,33m, cao 0.8 m . Có lẽ tượng này là dấu vết duy nhất còn sót lại từ thời Hán.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here