Chùa Giạm – Bắc Ninh

2
19
  • Tên gọi: Chùa Giạm, chùa Long Hạm, Chùa Hàm Long.
  • Tọa lạc: Đường xóm Chùa, Thái Bảo, Nam Sơn, tp. Bắc Ninh, Bắc Ninh.
  • Năm xây dựng : Chùa được xây dựng vào thời Lý.
  • Người xây dựng : Quốc sư Nguyễn Minh Không.
  • Phong tặng : di tích lịch sử quốc gia.

Tam quan chùa

Du khách ai một lần đến chùa Long Hạm hẳn khó quên được cảnh trí hùng vĩ mà thơ mộng đầy sức hấp dẫn nơi đây. Chùa Long Hạm(nay gọi là Hàm Long) ở lưng chừng núi Lãm Sơn (tức núi Giạm). Núi bao quanh ba phía tạo dáng hình một chiếc ngai, cây cối âm u tịch mịch.Tú tài khoa Bính Ngọ(1906) Nguyễn Đình Mai đã viết trong bài văn bia trùng tu Long Hạm tự bi năm Mậu Thìn – Bảo Đại 3 (1928) như sau: Chùa Long Hạm là một kì quan của Kinh bắc nước ta. Sông Lục Đầu, núi Lãm Sơn bao quanh, thế “Tứ linh” bao bọc.Phía Đông Nam – tay nam ngửa lên là Phượng, cuối xuống là Rùa, che ở trước mặt nhổm lên là Lân đang bái. Một dải dằng dặc nhô lên từ phía tây bắc hùng vỹ như Thần Long đầu ngẩng cao, hàm ghếch rộng… ở chỗ  đó là chùa Long Hạm, cho nên mới có tên gọi. Sáng lập từ đời nào không biết, theo sách Công dư tiệp ký, chùa có từ Quốc sư Nguyễn Minh Không thời Lý, dấu tích còn ghi trong Truyền đăng tục…

Quế Đường Lê Quý Đôn có thơ vinh chùa

Long Hạm đương sơ tác thượng phương

Cao phong khai đạo thượng lưu phương

Toàn vân lục tỉnh tam thiên thụ

Bản lĩnh thanh hoàn thập lục phương

bản dịch:

Chùa Long Hạm xưa kia là một cảnh tiên

Mở đường lên núi cao tu hành tiếng thơm còn lại

hàng ba ngày cây xanh, cao sát đến tầng mây

Một dãy núi sắc xanh vòng quanh cả mười sáu làng.

Ngày nay 16 làng chia ở quanh núi vẫn còn và chùa ở giữa làng Thái Bảo, Xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, cách thị xã Bắc Ninh 7 cây số, cách huyện lỵ 4 cây số. Nơi đây còn 17 ngọn tháp ở trước chùa, trong đó có tháp đá cao là tháo Cứu Sinh để xá lị cao thiền Viên Giác Hòa Thượng. Pháp danh ấy là do chùa ban cho sau khi ngài tịch. Vậy ngài là ai? Có liên quan gì đến chùa Long Hạm? ở một tháp đá khác trong quần tháp có ghi sự tích thánh tổ Cứu Sinh như sau:

Hòa Thượng quê Sóc Sơn, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa họ Trịnh tên Thập, húy NHƯ NHƯ, hiệu Lân Dác. Ngài là con thứ 11 của Tham tể Tấn Quan Vương.Xưa thân phụ nằm mộng thấy một ông già mặc áo xanh dắt một đồng tử đến cho. Thân mẫu là Vũ Thị từ hoài thai, mãn nguyệt sinh Ngài vào giờ Dậu ngày 5 tháng 12 năm Bính Tý – CHính Hòa thứ 17 (1696). Trán ngài có chữ Dác, dung mạo khôi ngô. Lnee 7 tuổi , cha mất, đội ơn Nhân Thánh Vương(Trịnh Cương) bảo dưỡng. Lớn lên càng đẹp khỏe, khí độ khoáng đạt, ham thích kinh, giỏi thơ… Hy Tông Hoàng nghe nói, muốn gả Công chúa thứu 4 cho. Ngài từ chối. Tuy sống trong lầu son gác tía, diện ngọc nhà vàng nhưng vẫn chán thế tục muốn xuất gia. Ngài thường than rằng: Một nhà no ấm là ngàn nhà oán trách, nửa đời công danh để trăm đời chịu oan uổng, kiếp phù sinh đáng được bao nhiêu, chỉ như trong giấc mộng! Từ đó ngài đi vãng cảnh các nơi, thích cơm dưa áo vải. bấy giờ có HƯơng Hòa Thương là người phong nhã, ngài bèn gửi biếu một cuốn Hiếu sinh học. HƯơng Hòa thượng xem xong, càng mếm mộ liền khai ngộ cho Ngài. Khi ngài chưa xuất gia, thường đến chùa Hộ Quốc ở phường An Xá,lại đúc tượng Minh Không đem cúng vào chùa Chúc Thánh ở núi Phả Lại.

Năm Bính Ngọ (1726) Ngài xuất gia ở chùa Long Động núi Yên Tử(Quảng Ninh) làm đệ tử của Hòa Thượng Chân Nguyên và Tuệ Đăng CHính Giác. Hai vị hòa thượng đánh giá cao Ngài, chọn ngày 11 tháng 5 cho thụ ký, đặt tên là Như Như. sau khi thụ giáo Ngài bái biệt về kinh và xinh được cắt tóc đi tu, chúa thượng không  hài long, ngài cố vân nài tháo bỏ khăn áo mặc cà sa. Chùa thượng nổi giận mắng nhiếc song Ngài vẫn hoan hỉ. Bà Quốc tể phu nhân nói : Muốn tu thân nào ngờ làm Thánh thượng giận. SAu đó chúa thượng sai quan đón về bản doanh. Ngài lại dâng khải. Chúa thượng thu nhận, ban cho mỗi năm hơn 300 quan tiền và 700 bát gạo để chi phí. Ngài cảm tạ và tự nghĩ : Minh không có công lao gì mà được hưởng nhiều thế. Bèn đem dựng chùa ở bản doanh, nhân thấy hoa sen nở ứng với tâm tông của Phật nên đặt tên là chùa Liên Tông.Ngài trụ trì ở đó và đã từng diễn Nôm các bộ Thập giới.Ngũ giới để ngăn điều ác, khuyến việc Thiện, làm sáng điều Nhân – Nghĩa – Lễ – Tín. Những bậc hiểu sâu giáo lý Phật thường đến học hỏi ngài, không ai là không thán phục. Mùa hè năm Mậu Thân (1728) ngày viết Cứu sinh thập nguyện bằng máu rồi tụng đọc, mong cho công quả viên mãn trở thành Cứu sinh Bồ tát. Người đương thời mến mộ đến theo rất đông. Ngài đi vân du ở núi Phật Tích, chùa Vạn Phúc được áo cà sa của tổ sư, ngài đến trụ trì ở chùa Long Hạm. Với cái tên Kim Cương, tu hành đắc đạo.

Ngày rằm tháng 2 năm Nhâm tý, niên hiệu Long Đức 2 (1738) Ngài ngồi ngay ngắn ngoảnh mặt về phía tây mà hóa.

Các môn đệ tử dâng khải về kinh sư. Chúa thượng cho rước thi hài về khắc tượng ngài ngồi thế liệt già. Bà Thái phi ban cấp tiền giúp ngài và các môn đệ xây tháp để đặt xá lị vào ở chùa Liên Tông và chùa Long Hạm. Chúa thượng lại ban sắc phong. Chùa Long Hạm khi Ngài về trụ trì về sau cũng như chùa Liên Tông về trước đều là những trung tâm truyền giáo đạo Phật có quy mô lớn , là nơi Ngài trước tác và ấn hành cũng như lưu trữ các bộ kinh.

Chùa đã qua nhiều đời trùng tu. Thời Khải Định đã sửa tiền đường, hậu đường, tả hữu tăng phòng khách xá, vũ môn hộ, tổ đường… đúc chuông, tô tượng Thích Ca, Hộ pháp…sau 2 cuộc khánh chiến chùa xưa đổ nát hoang tà, từ 1976 đến nay được sự quan tâm hội Phật giáo , hòa thượng Thích Thanh Dũng đã về đây trụ trì và khởi công tu sửa lại tòa tam bảo, tổ đường, nhà khách,Động linh, tô tượng, lát sân, xây bể nước, trồng cây… qua nhiều năm, bằng nguồn kinh phí phụ , kể có dư trăm triệu, nên chùa đã khang trang và đẹp chẳng kém xưa. năm 1988 Bộ văn hóa thông tin  đã xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia.

 

2 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here