CHÙA HIỂN NAM – BÌNH ĐỊNH

1
34
  • Tên gọi : Chùa Hiển Nam.
  • Tọa Lạc : 192 đường Diên Hồng, Phường Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn.
  • Năm xây dựng: 1897.
  • Người xây dựng : Trương Đạo Tân.

KIẾN TRÍ TỔNG QUAN
Trước chùa có chiếc cổng gạch vừa mới xây trong năm nay. Trên mày cửa có biển hiệu chùa bằng chữ Hán và Quốc ngữ. Bên dưới, mặt trên hai trụ vôi có câu liễn:

顯 明 彌 奧 弘 揚 真 理 嚴 慈
南 天 普 度 玄 机 正 法 光 輝
Phiên âm:
Hiển minh di áo, hoằng dương chân lý nghiêm từ,
Nam thiên phổ độ, huyền cơ chánh pháp quang huy.
Dịch nghĩa:
Đuốc Tuệ soi xa, lẽ thật nghiêm từ xán lạn,
Trời Nam độ khắp, cơ huyền chánh pháp huy hoàng.
Qua khỏi cửa ngõ, giữa sân có tượng đài Quan Âm sái thủy. Sau tượng đài là Chánh điện.

Tam quan chùa Hiển Nam.

Chánh điện là một ngôi nhà ngang, tọa Tây Bắc hướng Đông Nam, dài 8m, rộng 6m, diện tích 48m², xây gạch lợp ngói, chấn thủy mặt tiền có biển hiệu chùa. Hai bên chánh điện có hai nhà thấp hơn, nối theo liền vách, mỗi nhà có kích thước 4m x 6m. Nhà Đông làm chỗ tiếp khách và hội họp. Nhà Tây phía trước thờ Tổ, phía sau là Phương trượng của Sư trụ trì. Tăng phòng, Trai phòng, Trù phòng đều ở phía sau Chánh điện.

Toàn cảnh chùa Hiển Nam.

Chánh điện chùa Hiển Nam.

Bia công đức tại chùa Hiển Nam.

Nhất kế hậu hủ tệ, Giáp Tý niên, Mạnh Xuân cốc đán, Đặng Quang Diệu ti khất tùng tân, kiến trúc chánh tòa thạnh tự, tịnh tu bổ toàn sở.
Chánh đốc công: Nguyễn Cao Cử.
Phó đốc kiêm Ty ký: Đỗ Cảnh Trung, Đặng Minh Ý.
Phụ đốc kiêm Ứng công: Hồ Thuần Phúc.
Nhất quyên công: Tín nữ Trần Tố Nga.
Phụ công doanh hành: Thiện nam Trần Bích Kim.
Nhất tu bổ hoàn thuân: Thiện tín đồng lạc cúng, đắc ngân nhị thiên dư nguyên, túc sung giá khoản.

Thiện nam Trần Vĩnh Quán phụng lục.
Dịch nghĩa:
Bảo Đại năm đầu (1926), tháng 11 ngày tốt.
Kính biên chùa Hiển Nam, người nào có công tán trợ việc trùng tu đến hoàn thành đều khắc đủ tên lên tấm sau đây để lấy đó mà bảo với người đừng quên.
Kê:
Một khoản: trước tiên bắt đầu cất chùa tranh là do công khó cùng tài vật của Ngô Tiến Hưng ở thôn Chánh Thành (Quy Nhơn) cùng tín nữ Ngô Tiến Thụy.
Một khoản: sau cải tạo từ chùa tranh thành chùa ngói là do công khó cùng tài vật của Ngô Tiến Hưng, Đặng Quang Diệu, Ngô Khánh Đức.
Một khoản: Kế sau đó chùa ngói mục nát. Năm Giáp Tý (1924) tháng Giêng ngày tốt, Đặng Quang Diệu xin theo cách kiến trúc đời nay mà xây dựng chánh điện bằng đá, cùng tu bổ toàn sở.
Chánh đốc công: Nguyễn Cao Cử.
Phó đốc công kiêm Thư ký: Đỗ Cảnh Trung, Đặng Minh Ý.
Phó đốc kiêm ứng công: Hồ Thuần Phúc.
Một khoản: xây dựng chánh điện bằng đá, tài vật do tín nữ Trần Tố Nga ứng cúng, thiện nam Trần Bích Kim có phụ thâu tài vật và đứng coi làm.
Một khoản: Tu bổ toàn sở đến hoàn thành là do thiện nam tín nữ đồng hỷ cúng tiền hơn hai ngàn đồng, đủ chi các khoản.
Thiện nam Trần Vĩnh Quán kính chép.
Giữa bàn Tổ có tôn trí long bài đề tên chư Tổ chùa Hiển Nam, kể từ tiên sư Trương Đạo Tân trở xuống, lại có cả những vị bàng hệ như Tổ sư Trần Tây Lâm hiệu Đạo Minh ở chùa Tam Giáo tại Hồng Kông, Lão sư Hòa thượng Thích Xương Như, khai sơn chùa Tăng Quang ở Quy Nhơn. Lão sư Thích Đạo Khương khai sơn một chùa ở Cống Sơn-Phú Yên.

CHÙA HIỂN NAM TỪ TRIỆU KIẾN ĐẾN NAY
Theo bia kỷ công cho biết thì chùa ban đầu lợp tranh, tức cất theo kiểu nhà lá mái rất phổ biến ở tỉnh ta trong thời ấy là sườn gỗ, vách đất, mái có hai lớp, lớp trong giằm sìa bỏ đất, lớp ngoài lợp tranh.

Sau đó bỏ tranh lợp ngói, tức bên dưới vẫn giữ y, chỉ có làm lại mái ngoài, đóng rui mè để lợp ngói. Sau nữa cải tạo thành thạch tự theo kiểu kiến trúc tân thời, tức triệt bỏ toàn bộ, dùng đá xây xông, gác đà, gác đòn đông đòn tay, đóng rui mè rồi lợp ngói. Theo kiểu này thì chánh điện có 2 mái, không có hai chái như nhà lá mái. Hai ngôi nhà Đông, Tây cất nối theo hai đầu xông chánh điện. Quy mô lần tu bổ này còn tới ngày nay.

Nhà thờ cửu huyền.

Cũng theo bia, ta chỉ biết được lần trùng tu bắt đầu từ năm Giáp Tý (1924) đến gần cuối năm Bính Dần (1926) mới hoàn thành. Hai lần xây dựng trước kia, bia không cho biết niên đại. Hai lần ấy có thể được xem như một lần bởi lẽ thay tranh lợp ngói là để khỏi phiền phức mỗi năm mỗi lợp lại mái nhà và để ngừa hỏa hoạn chứ bộ phận bên dưới vẫn chưa hư hỏng. Tuổi thọ của ngôi nhà này ít nhất cũng trên vài mươi năm. Điều này phù hợp với sự kiện mà tôi đã nói trong bài “chùa Tăng Quang”, đó là trong đám tang bà mẹ cụ Đào Tấn diễn ra tại Huế giữa năm Ất Mão (1897), ở tỉnh ta có hai chùa Linh Quang và Thanh Nam có cử đệ tử mang trướng ra điếu. Nếu chùa Hiển Nam có trước năm 1897 thì thế tất đã có điếu trướng rồi, ắt là lập sau năm đó,nằm trong khoảng giữa đời Thành Thái 1897-1901. Còn các năm thay tranh lợp ngói ắt diễn ra sau lần cất chùa đầu tiên chừng năm, bảy năm mà thôi. Những suy đoán của tôi trên kia, hy vọng không đến nỗi cách xa sự thật.Từ lần trùng tu năm 1924 đến nay, chùa đã trải qua mấy lần tu bổ nữa nhưng quy mô vẫn giữ y. Điều đáng nói là trong năm qua (1998), đương kim trụ trì tiến hành xây cất xong nhà thờ linh, đặt tên là nhà Vu Lan, ở phía Tây chùa khá rộng rãi và khang trang, kinh phí hàng trăm triệu khiến quy mô chùa thêm hoành tráng.

LỊCH ĐẠI TRỤ TRÌ HIỂN NAM TỰ
1. Tiên sư mở đạo: Trương Đạo Tân, người Trung Hoa, sang Việt Nam truyền đạo đời Thành Thái, trác tích tại núi Eo Mén, Phú Tài lập chùa Vân Nam, liễu đạo đời Duy Tân, mộ tại vườn chùa Vân Nam, Eo Mén, long bài thờ tại chùa Hiển Nam ghi:

奉 為 先 師 張 道 新 蓮 臺 座 位 三 月 二 十 四 日 正 忌
Phụng vì Tiên sư Trương Đao Tân liên đài tọa vị. Tam nguyệt nhị thập tứ nhật chánh kỵ.
2. Tổ khai sơn: Lão sư Đặng Quang Diệu, Đạo hiệu Vận Hoằng, người huyện An Nhơn, lập chùa Hiển Nam khoảng giữa đời Thành Thái (1897-1901). Long bài ghi:
龍 華 三 會 大 老 師 鄧 運 弘 覺 靈 真 性 蓮 薹 座 位
Long Hoa tam hội Đại Lão sư Đặng Vận Hoằng giác linh chơn tánh liên đài tọa vị.
Ông sinh năm Canh Thân (1860) liễu đạo Giáp Tý (1924). Thọ thế 64 năm, mộ tại đâu chưa rõ.
3. Trụ trì: Lão sư Đặng Vĩnh Ý, cháu kêu ông Quang Diệu bằng chú. Kế vị khai Tổ trụ trì chùa Hiển Nam sau khi tổ liễu đạo (1924), đồng thời tiếp tục đến hoàn thành công trình Đại trùng tu Hiển Nam tự. Long vị ghi:

顯 南 佛 堂 老 師 鄧 永 意 覺 靈 真 性 座 位
Hiển Nam Phật đường, Lão sư Đặng Vĩnh Ý, giác linh chơn tánh tọa vị.
Ông sinh năm Canh Tý (1900), tịch năm Canh Tuất (1970). Thọ thế 70 năm. Mộ trong vườn chùa Phước Nam ở Phú Tài.

4. Đương kim trụ trì: Lão sư Nguyễn Tôn, Pháp danh Chơn Tôn, Pháp hiệu Từ Hàng, sinh năm Kỷ Mùi (1919) tại thôn Cự Tài, xã Hoài Hảo, huyện Hoài Nhơn, năm 20 tuổi xuất gia tại chùa Nhuận Nam ở thôn Hội Phú trong xã do Lão sư Vĩnh Ý truyền giới. Từ ấy tu học tại chùa Nhuận Nam và chùa Hiển Nam. Kế vị bổn sư làm trụ trì chùa Hiển Nam từ năm 1970 đến nay.
Sư có một đệ tử, cách đây 10 năm đầu Thiền nơi Thượng tọa Thích Nguyên Huệ, chùa Bích Quang, Pháp danh là Quảng Châu. Vị này tu học tại Đại Tùng Lâm, Vũng Tàu 8 năm, đã thọ Đại giới, hiện là Giảng Sư, làm phó trụ trì chùa Hiển Nam. Ngoài ra, còn một chú tiểu Như Thọ đang học cấp II.


Chú thích:
Lão sư Chơn Tôn viên tịch vào ngày 29 tháng 6 năm Nhâm Ngọ (2002), thế thọ 84 tuổi. Đệ tử là Đại đức Thích Quảng Châu kế thừa trụ trì chùa Hiển Nam từ đó đến nay.

Đại đức Thích Quảng Chu thế danh Lê Quang Bình, sinh năm 1968 tại thành phố Quy Nhơn. Thân sinh là cụ ông Lê Văn Tân và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Niệm.
Năm 12 tuổi, Đại đức xuất gia với Lão sư Từ Hàng tại cha Hiển Nam với pháp danh Chơn Trì. Năm 1988, Đại đức cầu pháp với Thượng tọa Thích Nguyên Huệ tại chùa Bích Quang với pháp danh Quảng Châu, tự Diệu Đạo nối pháp đời 45 dòng thiền Lâm Tế Liễu Quán. Cũng trong năm nay, Đại đức thọ Sa di giới tại chùa Thiên Bình do Hòa thượng Thích Liễu Không lâm Đường đầu Hòa thượng. Đại đức theo học khóa I lớp Cao đẳng Phật học tại Đại Tòng Lâm tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và thọ Đại giới năm 1992 tại cha Ấn Quang do Hòa thượng Thích Trí Tịnh lâm Đường đầu Hòa thượng.

Năm 2002, Đại đức kế thừa trụ trì cha Hiển Nam và từng bước kiến tạo lại tòan bộ cảnh chùa. Cuối năm 2002, Đại đức phát nguyện kiến tạo tháp Đa Bảo 7 tầng để thờ Phật. Công trình kéo dài đến năm 2004 thì hòan tất. Tiếp tục Đại đức xây dựng Tổ đường vá tháp chuông hòan tất vào năm 2007.

1 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here