Chùa Hương – Hà Nội

0
84
  • Tên gọi : chùa Hương ,Chùa Hương Sơn
  • Tọa lạc:  xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội .
  • Năm xây dựng: đời Lê Huy Tông dưới niên hiệu Chính Hòa (1680 – 1704)
  • Người xây dựng : chưa xác định

Theo Phật thoại thì đây là nơi lưu dấu đức Quán Đồ Tát tu hành đắc đạo. Bồ Tát đã ứng thân làm công Chúa Diệu Thiện, con vua Diệu Trang vương ở nước Hưng Lâm, tu hành 9 năm trong động Hương Tích – Khi đắc đạo rồi, trở về chữa bệnh cho Cha , trừ nghịch cho nước và phổ độ chúng sinh.Câu chuyện trên được lan truyền rộng, các thiền sư lần lượt tìm đến đây nhàn du mây nước. Chu Mạnh Trinh (1862 – 1905) đã viết:

Bầu trời cảnh bụi.

Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay

Kìa non non nước nước mây mây

“Đệ nhất động” hỏi rằng đây có phải…

Tản Đà (1888 – 1939) đã phác thảo bức tranh Hương Sơn:

Chùa Hương trời điểm lại trời tố

Một bức tranh tình trải mấy thu

Xuân lại xuân đi không dấu vết

Ai về ai nhớ vẫn thơm tho

Đúng vậy, hơn 5 thế kỷ đã trôi qua, mà Hương Sơn vẫn xuân xanh trường cửu. Nơi đến chùa Hương là một quần thể di tích danh lam thắng cảnh ở huyện Mỹ Đức, Hà Tây:

Kể từ lúc bước lên đò Đục

Ngước mắt trông sơn đã mãn mục vân sơn

Mái chèo rẽ nước suối Yừn đưa ta lách non xanh trùng điệp tưởng như vô tận. Nó sườn non, mấy bạc rập rờn, hoa mai hai lần 1 cả núi rừng. Những sắc hương hoa trái không nào có được. Một vị Hoà thượng chùa Hương nói: “Khu thắng cảnh chùa Hương, núi không làm, động không to lắm, suối không sâu lắm nh, đây đúng như câu thơ “Tiểu sơn lâm mà có đ.. quan”. Chưa một lần trảy hội chùa Hương thì có thể nói rằng mình đã đến đất Phật và biết thế là cảnh đại kỳ quan của đất nước.

Đò đưa du khách ghé lên đền Ngũ nhac đứng ngay bên cạnh suối, đền thờ một bộ tướng Chí vua Hùng Vương thứ 16 tên là Hiển Quang, đã có công lao đánh giặc, giúp dân trừ bạo và về sau về thi không Cao lắm nhưng ở sĩ ở vùng này. Ai hành hương cũng đến đây trước để trình lễ với Sơn thân nên cũng gọi là đền Trình. Sau đó con đò có thể đưa ta đi 2 tuyến: hoặc tuyến phía nam thăm chùa động Thanh Sơn, Hương Đài, Long Vân, Tuyết Sơn… Mỗi nơi một vẻ độc đáo, hoặc theo tuyến chính ghé bến Tiên, bến Trò, nơi tiễn khách trèo lên non. Vào chùa Thiên Trù (nghĩa là bếp trời, cái bếp khổng lồ của Nam thiên đệ nhất động). Ta nhớ lại vào đời vua Lê Thánh Tông (1442-1497) có ởvị Hoà thượng đã tìm ra động Hương Tích và dựng lên Thảo am Thiên Trù. Từ đó động Hương THCS thường gọi là chùa Trang, Thiên Trù gọi là chùa ngoài .

Trong ngoài “tuy hai mà một”, lấy tên chung hiên Bảo Sái. Khi vua Lê Thánh Tông đi đây đã đóng quân nghỉ lại và cho lính | Vua xem thiên văn thấy vùng này ở vào sao Thiên Trù (một sân chủ về sự ản nhân đây mà đặt tên. chúa tỉnh Đô Vương Trịnh Sâm trong ấn du năm Canh Dần (1770) đã khắc 5 thiên đệ nhất động vào cửa động và lưu lại văn bia. Đến năm Chính Hoà thứ 7 (1686) Trung hưng, Hoà thượng Trần Đạo Viên thân nhân (tương truyền cũng là một quan – ấn từ quan để đi tu) đến tu sửa Hương Tích hợ ở trong, mở mang cảnh Phật Thiên Trù ở

Từ đó đèn thiền truyền nối cho đến đầu thế kỷ Thiên Trù trở thành một lâu đài tráng lệ. Chùa -ên 100 nóc với những công trình kiến trúc quy tinh xảo. Năm 1947, 1948 và 1950 chùa bị bom an chiến tranh tàn phá, chùa Thiên Trù không còn nữa, nay mới xây dựng lại. Dấu vết xưa còn lại là Vườn Tháp, trong đó có Viên Công bảo tháp xây bằng gạch cổ, chạm khắc tinh tế dựng cách đây hơn 200 năm; Thiên Thuỷ tháp là một khối đá bị nước mưa bào mòn tạo thành hình tháp. Chùa có nhiều bia lớn, nhiều thơ để vinh. Rời Thiên Trì theo đường bộ vào Hương tích, dọc đường có thể rẽ vào thăm chùa Tiên, “ện động Tiên Sơn – đây là một toà động đẹp, cảnh các thanh u, có bút tích bài thơ của Trịnh Sâm, có 5 Pho tượng bạch thạch trắng, trong động có nhũ đá rủ xuống thành hình Tràng phan Bảo cái… gõ vào phát một thanh như tiếng mõ tiếng chuông, tiếng trống, eng khánh, tiếng cồng… Quay ra tuyến đường chính đi tiếp đến chùa Giải Oan nơi có giống như trong vắt, trước chùa có suối 9 nguồn gọi là suối c Oan, Tương truyền Phật bà Quan Am đã tắm ở g thiên nhiên Thanh Trì để tẩy bụi trân trước khi cõi Phật. Vẫn theo đường đá gập ghềnh tiến sâu ta sẽ gặp đến Cửa Võng (đền này thì bà Thượng Ngàn – tương truyền là người cai quản rừng ở khu vực Hương Sơn – đồng thời cũng là Ngọc Nữ thường xuyên mang tin tức từ chùa N. vào chùa Trong). Qua đền Trấn Sông, rẽ trái. động Tuyết Quynh “đa ngũ sắc long lanh như. dệt” trăm ngàn hình vẽ hiện lên, nào hố đá, rùa . rắn đuổi mối v.v… có tượng Phật bà bằng đá trắng cao 58 cm. Tên động là tên hiệu của nàng Công chú Mai Hoa ở Phù Lưu tế vì nạn nhà hân nước pha cùng một tiểu tăng lên Hương Sơn tu ấn, cảm hóa được hổ, mở mang động núi. Nàng yêu hoa quỳnh và trong trắng như tuyết nên lấy Tuyết Quỳnh làm hiệu và làm tên động. Nàng về với Trời Phật đúng vào ngày 8 tháng 4. Ta lại trở ra đường cũ và đi thêm sẽ đến chùa Hương Tích. Hương Tích là dấu vết thơm tho, ý nói nơi đây đã từng là chỗ tu hành của Bồ Tát Quán Thế Âm. Chùa động Hương Tích là

điểm chính của thắng cảnh. Vào chùa phải qua một cổng lớn ở phía trên rồi theo bậc đá rộng đi xuống động. Cửa động giống như hàm rộng và có biết bao nhiêu nhũ đá kỳ dị thể hiện những ước mơ dân gia như đụn gạo, đụn thóc, cây tiền, cây bạc, cây vàng: núi cậu, núi cô, nong tâm, né kén chuồng trâu, đó bèo, bầu sữa mẹ v.v… Trong động có pho tượng Phật bà Quan Âm bằng đá xanh tạc thời Tây Sơn. Ngu tạc tượng thời đó đã không theo quy ước sẵn có của tượng Phật mà đau đáu nỗi th cho biết xưa le Hưng thứ 28 0

A mà tạo nên một hình ảnh bà Chúa Ba, nỗi thương đời. Tấm bia đặt ở trong động n kia tượng vốn bằng đồng, đúc năm Cảnh 28 (1767) sau bị quấn Trinh thu đúc khí tương đá xanh hiện còn tạc năm Cảnh Thịnh 1 (1793).

Tương truyền, Phật Quan Âm sang phương Nam Kinh điển Phối tên ngọn núi phía đã từng ngồi tù tha truyền, Phật Quan Âm cầm tích trường ng Nam đế độ chúng sinh đã trụ trì ở đây. Tin Phật giáo còn cho biết 2 chữ Hương Sơn là 1 núi phía bắc Tuyết Sơn – nơi Phật Thích Ca Chùa còn tượng các vị La Hán và một quả ng lớn cũng được đúc vào thời gian này do Nhật ng hậu dưới triều Tây Sơn cung tiến.

Đến Hương Tích, cảm nhận được những điều Dương Khuê (1839 – 1902) tả rất thực:

Bút thần ngoan khôn sẽ cho cùng

Riêng một bầu sắc sắc không không

Đủ mọi vẻ kỳ kỳ quái quái

Động chủ hữu linh thần bút tại

Hoa nhi vô ý tự nhiên công

Khách trèo non ngoảnh lại mà trông

Năm 1958 Hồ Chủ tịch đã về thăm và căn di “Phai biết quy canh đẹp, phải trồng cây cối và mở m quy hoạch lại cho bà con trong nước và nước ngoài – đây vãn cảnh”.

Tiếp đó, 2 lần Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm (1961 và 1971) ân cần dặn phải xây dựng đây thành “Công viên Quốc gia”.

Điều dặn dò trên và cũng là điều mơ ước chung đã và đang được Bộ Văn hóa – Thông tin, Ủy ban Văn hó và Giáo dục của Liên Hợp Quốc cũng như UBND tỉnh Hà Tây… từng bước thực hiện. Mỗi năm trẩy hội chùa Hương lại thấy bao nhiêu là đổi thay, càng nhìn càng đẹp, càng vào càng ưa. Năm nay đến, năm sau lại vẫn muốn đến, có người đến 50 lần mà vẫn còn say).

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên đăng nhập