Chùa Hương Mai – Bình Định

0
23
  • Tên gọi : Chùa Hương Mai.
  • Tọa lạc : thôn Hải Nam, xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn.
  • Năm xây dựng – Khai phong : 1944.
  • Người xây dựng  : Nguyễn Tiếp.

Điện Long Hoa chùa Hương Mai.

Chùa tọa lạc phía Đông bán đảo Phương Mai, lưng dựa ngọn núi cao 200m ở hướng Tây, mặt trông xuống biển Đông, thuộc địa phận thôn Hải Nam, xã Nhơn Hải, thành phố Quy Nhơn.
KIẾN TRÍ TỔNG QUAN
Chánh điện chùa Hương Mai là một ngôi nhà ngang dài 12m, rộng 10m, diện tích 120m2, cao 6m, xây gạch lợp ngói, hai mái hai chái.
Nơi tiền diện, trên mặt hai trụ biên có câu liễn:
香 上 蓮 花 占 斷 西 潮 三 月 景
梅 中 楊 柳 分 來 東 海 一 枝 缾 
Phiên âm:
Hương thượng liên hoa, chiếm đoạn Tây hồ tam nguyệt cảnh,
Mai trung dương liễu, phân lai Đông hải nhất chi bình.

Dịch nghĩa:
Hương sen hơn các thứ hương, nó đã ăn đứt các loài hoa suốt ba tháng xuân tại Tây hồ,
Trong rừng mai có trồng dương liễu, đã chia cho Đông hải một cành để cắm trong bình.

Mặt tiền chùa Hương Mai (cũ).

Toàn cảnh chùa Hương Mai.

 

CHÙA HƯƠNG MAI, HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Theo bản ” Lược Sử Chùa Hương Mai” của Ban hộ tự hiện nay soạn thì chùa Hương Mai sở dĩ có là do có tượng Quan Âm. Tượng nguyên thủy là một khối đá vôi có dạng tượng tròn, trải qua nhiều phen tô đắp cuối cùng mới định hình là tượng Quan Âm. Chùa lúc đầu chỉ là một thảo am ở nơi khác rồi chuyển cất đi cất lại nhiều lần mới được như ngày nay. Và chùa gắn liền với sự lập làng cùng phát triển nhịp nhàng theo sự phát triển về dân số, sự thăng tiến về đời sống tinh thần lẫn vật chất của cư dân bản địa. Xin tóm lược như sau:
Cách đây hơn trăm năm, tại nơi mà nay gọi là thôn Hải Nam và thôn Hải Đông thuở ấy gọi là vũng san hô có ngư dân các nơi quy tụ về đây sinh sống bằng nghề lưới đăng, dưới sự cầm đầu của ba anh em là Tham, Dầm và Dè. Họ lập nên làng gọi là Phương Mai. Sau khi thắng kiện nhóm ngư dân gốc Hòn Mới, Hòn Mét cư trú trên Hải Giang, họ được trọn quyền khai thác hải sản tại Mũi Én, nhóm người kia phải quay về Hòn Mới, Hòn Mét ở vùng nay thuộc xã Cát Chánh.
Bấy giờ, có một chiếc ghe của một ngư dân ở Hà Ra, Phù Mỹ vào mũi chính neo thuyền nghỉ. Đến chừng nhổ neo ra đi thì có vật nặng dính ở mỏ neo, họ xúm lại kéo lên thì thấy một khối đá vôi kết tinh với sạn, có dạng người ngồi xếp bằng (chỉ có đầu và thân, phần mặt và tay chân chưa rõ nét). Họ bèn đem vào gởi tại làng Phương Mai, định lượt về sẽ ghé lại chở về. Sau đó khá lâu, không thấy họ ghé lại, dân làng bèn khiêng khối đá lên sườn núi Lăng Yến (nơi thờ Tổ nghề khai thác yến sào) là thôn Hải Đông rồi cất một thảo am để thờ (Cách chùa hiện nay khoảng 2km về hướng Bắc). Từ ấy, dân làng làm ăn phấn phát, ai cũng bảo nhờ tượng đá phù hộ. Tiếng lành đồn xa, khiến ngư dân ở tại đảo xa, nay cũng trực thuộc thành phố Quy Nhơn cho người đến lén lấy tượng đá đem về thờ thì được mùa liên tiếp. Ngư dân Phương Mai từ khi mất tượng thì mất mùa luôn, sau dò biết đảo ấy thờ tượng của làng mình mà trở nên phấn phát bèn làm đơn kiện nơi Tri phủ Tuy Phước. Quan phủ buộc ngư dân đảo kia trả tượng lại cho làng Phương Mai. Người Phương Mai đến rước tượng về thì làm ăn phát đạt trở lại như trước.
Khoảng đầu thập niên 40, làng chuyển am từ sườn núi Lăng Yến đến sườn núi là chỗ bây giờ cất chùa thờ. Ban đầu, quy mô khiêm tốn, mỗi bề 4m, diện tích 16m2, xây đá ong lợp ngói vảy. Chùa do một hương thân trong làng đứng lập, tên ông là Đoàn Hữu Thắng, tục gọi theo tên con là ông Cả Não.
Ông Cả bèn thuê thợ đến dùng vôi tô tượng thành tượng Bồ tát Quan Âm rồi đặt lên bệ để thờ.
Bấy giờ có bà Phạm Thị Bây đem lễ vật đến cúng. Các con bà theo mẹ đến chùa thấy pho tượng liền đến rờ rẫm làm vôi bong ra, làng phải thuê thợ tô lại bằng chai bóng. Lần nầy tô thành tượng Phật Di Đà. Sau đó, lớp chai bong ra, họ thuê thợ tô  lại thành tượng Phật Thích Ca, lớp chai cũng bong nữa, họ bèn dùng xi măng đắp thành tượng Quan Âm, định hình cho tới hôm nay.
Trong thời gian dùng chai bóng tô tượng thì chùa được tu bổ, vách xây đá san hô, mái lợp ngói âm dương, do ông Đoàn Minh đứng cất.
Tổ đường chùa Hương Mai (cũ).

Chánh điện chùa Hương Mai (mới).

Tới năm 1944, khuôn hội Phật giáo đầu tiên được thành lập tại Phương Mai do ông Nguyễn Tiếp làm Khuôn hội trưởng, làng bèn giao chùa nầy cùng sở đất mà chùa tọa lạc cho khuôn hội làm nơi thờ phượng và đặt trụ sở.
Năm 1946, chùa thỉnh được tượng Đức Bổn Sư bằng gỗ thếp vàng.
Năm 1952, bà Nghi Hưng ở bên phố Quy Nhơn cúng tượng Bổn Sư bằng xi măng nay còn tôn trí giữa bậc trên bệ thờ.

  Tổ đường chùa Hương Mai.

Năm 1958, Thượng tọa Tâm Hoàn Huệ Long nhận lời thỉnh cầu của Phật giáo đồ khuôn hội Phương Mai, qua làm lễ khai sơn chùa đặt tên là Hương Mai tự, đồng thời làm lễ cho đồng bào địa phương quy y tập thể. Chùa có tên từ đó nhưng cũng chưa có vị trụ trì, vẫn do khuôn hội quản lý cho tới hôm nay (2000).
Năm 1961, chùa thỉnh đại hồng chung.
Năm 1963, chiến tranh lan tới vùng nầy, chùa bị hải pháo đánh sập.
Năm 1964, cư sĩ Trần Đôn cất lại chùa.
Năm 1974, chùa được tái thiết, nới rộng diện tích, quy mô to lớn hơn xưa, còn tồn tại đến ngày nay. Lễ lạc thành thiết trai đàn có đủ thuyết pháp trai Tăng chẩn tế do Hòa thượng Bảo An chứng minh.

Năm 1993, đoàn viên gia đình Phật tử vỡ đất xây Đoàn quán, kinh phí khoảng 10 triệu.
Năm 1997, chùa xây nhà Tổ, kinh phí khoảng 65 triệu. Năm sau lạc thành mở trai đàn thỉnh Hòa thượng Bảo An chứng minh, Thượng tọa Liễu Giải sám chủ, Đại đức Giác Viên gia trì.
Hiện nay, chùa do Ban hộ tự quản lý. Ban nầy được bổn đạo trong chùa bầu ra làm việc có nhiệm kỳ mà không thù lao. Tưởng cũng nên nêu danh tánh để hưng khởi người hữu tâm. Trưởng ban: Cư sĩ Phạm Tư; Phó ban: Cư sĩ Nguyễn Luân; Ủy viên: Cư sĩ Nguyễn Đức Bản.
Trên kia tôi có nói quá trình hình thành pho tượng Quan Âm, tượng qua nhiều lần tô đi phết lại đã được định hình trước năm 1945. Đó là pho tượng đặt ở bậc giữa bệ thờ Phật chùa Hương Mai hôm nay.

Tượng Quán Âm xưa tại cha Hương Mai.

Tượng cao 1m20 kể cả tòa sen, tượng với tòa sen liền một khối
không thể tách rời bởi cùng chung một khối đá. Tượng ngồi kiết già, hai bàn tay ấp vào nhau đặt giữa hai bàn chân chứ không bắt ấn như ta thường thấy ở các tượng Phật. Khuôn mặt trái xoan. Vẻ mặt rất sống động, nhất là ở đôi mắt vừa hiền từ vừa nghiêm nghị, có nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam, không giống gái Ấn hoặc gái Tàu như ta thường thấy trên các tranh tượng lâu nay. Càng ngắm tượng Bà tôi càng thấy Bà giống người phụ nữ Việt Nam đang ngồi niệm Phật khiến Bà càng trở nên gần gũi với người đời và càng thân thiết biết bao. Phải chăng tác giả pho tượng nầy muốn thể hiện một Quan Âm mẹ hiền, trải rộng lòng thương yêu chúng sanh dìu dắt chúng sanh đồng thành Phật đạo? Tác giả là ai? Tôi rất ngạc nhiên khi được biết họ là những người thợ nề ở huyện Tuy Phước, chưa từng học qua khoa điêu khắc mà đã thể hiện được một tượng tròn có bố cục cân đối và hài hòa, có đường nét dịu dàng và uyển chuyển, chứng tỏ có tay nghề của một bậc thầy. Tôi có thể nói mà không sợ lầm rằng đây là một pho tượng độc đáo, chẳng những đẹp mà còn ra ngoài khuôn sáo có sẵn, tạo thành một phong cách riêng. Với phong cách này, hiện nay về thể tài tượng Quan Âm, tôi chưa thấy có pho thứ hai. Bởi đó, tượng trở thành hiếm và quý.
Càng quý hơn nữa, hình tượng mẹ hiền Quan Âm thể hiện nơi tượng luôn ngự trị trong tâm hồn bổn đạo chùa Hương Mai và Phật tử địa phương, che chở họ, dìu dắt và nâng đỡ tinh thần họ, khiến họ dõng mãnh tinh tiến trên bước đường tu học. Chùa ngày nay hưng thịnh là nhờ có tượng vậy.
Sau đây là họ và tên các vị Khuôn hội trưởng, Đại diện, Trưởng ban hộ tự đã có công duy trì và phát triển chùa Hương Mai từ năm 1944 đến nay (2000).

1944-1945:                         Khuôn hội trưởng Đạo hữu Nguyễn Tiếp
1945:                                  Khuôn hội trưởng Đạo hữu Trần Hòa
1946:                                  Khuôn hội trưởng Đạo hữu Bùi Nhuận Đức
1947:                                  Khuôn hội trưởng Đạo hữu Đoàn Lân
1948-1951:                        Khuôn hội trưởng Đạo hữu Nguyễn Diêu
1952:                                  Khuôn hội trưởng Đạo hữu Đoàn Giao
1953-1960:                        Đồng bào đi tản cư, chùa ngưng sinh hoạt.
1960:                                  Đại diện Đạo hữu Phan Chấn
1961-1963:                        Đại diện Đạo hữu Trần Phong
1964:                                  Đại diện Đạo hữu Trần Đôn
1968:                                  Đại diện Đạo hữu Trần An
1971-1973:                         Đại diện Đạo hữu Đỗ Dương
1974-1978:                         Đại diện Đạo hữu Phan Thành Long
1979-1986:                          Đại diện Đạo hữu Trần Phúc
1987:                                  Đại diện Đạo hữu Nguyễn Nhơn
1994 đến nay                    Trưởng ban hộ tự Đạo hữu Phạm Tư.
Nguyện vọng tha thiết của Ban hộ tự, bổn đạo chùa Hương Mai và Phật tử địa phương là mong sao sớm có tăng sĩ về làm trụ trì để hướng dẫn họ tu học, cùng chung sức với họ xây dựng tự viện trở thành nơi quy ngưỡng chẳng những của Phật giáo đồ địa phương mà của đông đảo Phật tử và du khách đến từ mọi hướng. Đó cũng là tâm nguyện của kẻ viết bài nầy. Mong vậy thay!

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ KHAI TỔ CHÙA HƯƠNG MAI
Khai Tổ húy Tâm Hoàn, tự Giải Quy, hiệu Huệ Long, đời pháp 43 kệ phái Thiệt Diệu Liễu Quán.
Thế danh Nguyễn Tâm Hoàn, sinh năm Giáp Tý (1924) tại thôn Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn.
Xuất gia năm 1935 tại chùa Long Khánh, Quy Nhơn do Hòa thượng Trừng Chấn Chánh Nhơn thế độ.
Tu học tại chùa Long Khánh dưới sự giáo dưỡng của bổn sư, tại Phật học đường Báo Quốc do Pháp sư Trí Độ làm Đốc giáo, Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám làm Giáo thọ.
Thọ Đại giới năm 1942 tại chùa Hưng Khánh, Tuy Phước do Hòa thượng Chơn Hương Chí Bảo làm Đường đầu tái thí giới.
Năm 1957, làm trụ trì chùa Long Khánh, Quy Nhơn.
Năm 1958, khai sơn chùa Hương Mai tại thôn Hải Nam.
Từng giữ các chức vụ: Phó hội trưởng hội Phật học Trung Phần (1954-1956), Phó giám đốc Phật học viện Hải Đức, Nha Trang (1956-1957), Phó Đại diện GHPGVNTN tỉnh Bình Định (1964 đến khi quy tịch).
Được phong Thượng tọa từ năm 1954.
Tịch tại Tổ đình Long Khánh ngày 7 tháng 3 năm Tân Dậu (1981), thọ 57 tuổi dương tức 58 tuổi âm, được 38 hạ lạp. Được Giáo hội Trung ương truy phong lên hàng Giáo phẩm Hòa thượng trước khi nhập tháp.
Nhập tháp tại vườn chùa Long Khánh, bên tả sân trước Chánh điện.
Chú thích:
Chùa Hương Mai được đạo hữu Phật tử đại trùng tu vào năm 2005 như diện mạo hiện nay. Năm 2006, bổn đạo cung thỉnh Đại đức Thích Quảng Thức về trụ trì chùa. Từ đó, Đại đức ngày càng kiến tạo chùa Hương Mai ngày càng trang nghiêm, đồng thời mở rộng diện tích đất chùa từ 2000m2 lên đến 8000m2.
Đại đức Thích Quảng Thức thế danh Lê Đức Trí, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1970 tại thành phố Quy Nhơn. Thân sinh là cụ ông Lê Đức Minh pháp danh Thị Tâm và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Sáu pháp danh Ngọc Hoa. Năm 1981, Đại đức xuất gia với Hòa thượng Thích Nguyên Phước tại Tổ đình Long Khánh, Quy Nhơn với pháp danh Quảng Thức, tự Đức Thành, hiệu Pháp Tín, truyền pháp đời 45 dòng Lâm Tế kệ phái Thiệt Diệu Liễu Quán. Đại đức thọ Sa di năm 1992 tại chùa Huê Nghiêm, TP.Hồ Chí Minh và thọ Cụ túc vào năm 1993 tại Đại Tòng Lâm tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu do Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Đường đầu Hòa thượng. Đại đức tốt nghiệp lớp Cao cấp Phật học khóa 3 TP.Hồ Chí Minh (1993-1997) và đậu bằng Tiến sĩ Phật học năm 2002 tại Đại học Dehli, Ấn Độ. Hiện tại, Đại đức là Trưởng Ban văn hóa thuộc tỉnh hội Phật giáo tỉnh Bình Định.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here