Chùa Hương Tích – Hà Tĩnh

0
336
  • Tên gọi : Chùa Hương Tích,  Hương Tích Cổ Tự , Chùa Thơm .
  • Tọa lạc : dãy núi Hồng Lĩnh thuộc xã Thiên Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
  • Năm xây dựng : thế kỷ XIII .
  • Người xây dựng : Chưa xác định

Để chạm hình tượng tiêu biểu của danh. Hồng Lĩnh lên “Anh đỉnh” (một trong 9 đỉnh đồng nội thành Huế, đúc năm Minh Mạng thứ 17-18 các nghệ sĩ đã chọn cảnh động Hương Tích.

| Hương Tích động, Hương Tích phong là gọi thường tên ngôi chùa cổ ở đây – Hương Tích tự – Hoan Châu đệ nhất danh lam. “Hương Tích” nghĩa đen là “chứa mùi thơm”. Có tài liệu giải thích là do “đi quanh am, chùa thấy phảng phất mùi thơm” hay “do nước con suối ở đây uống thơm ngon, được gọi là hương tuyền”. Thật ra Hương Tích là mượn điển tích trong kinh nhà Phật: Hương sơn là ngọn núi ở Bắc Tuyết Sơn, trong dãy Hymalaya (Ấn Độ) nơi xưa kia Đức Phật tu khổ hạnh. Ở Trung Quốc có 6 nơi và Việt Nam có 2 nơi lấy tên Hương Sơn (Hà Tĩnh và Hà Tây).

| Chùa Hương Ngàn Hồng (Chùa Hương Tích) dựng đời Trần, có thể đồng thời với chùa Yên Tử (Quảng Ninh) thế kỷ XVIII. Qua những biến thiên lịch sử, cảnh cũ đổi thay nhiều. Trong chuyến lên thăm chùa năm 1774, La Sơn phu tử Nguyễn Thiệp ghi lại trong thơ;

“Hương Tích ngôi chùa đời Trần

Dựng trên ngọn núi đẹp nhất Ngàn Hồng

Am cũ còn lưu lại đá trắng

Nền Trang vương xưa chỉ những thông xanh”

Du khách đi qua đất Hữu THiên Lộc ( nay là xã THiên Lộc huyện Can Lộc) thì bắt đầu bước chân lên đường núi. Qua khe Đá Bạc theo đường núi để leo lên, lối đá mấp mô, có chỗ phải vịn cây, níu đá mà đu, đúng như câu thơ của Nguyễn Nghiễm viết thế dây xanh rợp một vùng rừng thông , rừng trúc, rừng mai bao quanh quần thể kiên strucs và di tích cổ kính. Chùa gồm 2 tòa, tòa trong và tòa ngoài, am Thành Mẫu, đền Thiên Vương, nền Trang Vương nhà tăng…

Sách “Thiên Lộc huyện phong thổ chí” của Lưu ở Công Đao viết năm 1811 đời Gia Long mô tả: …”Trên anh núi có bức thành đá, bên thành có 99 cái nền, cái nào cũng đều ghép bằng đá mài đẽo trơn phẳng, gọi là nền Trang vương… Ở trước của thành có hai cây thông đứng đối xứng nhau, cây nào cũng to lớn đến năm, sáu sải tay ôm, cao đến chừng 20 trượng, bóng nhâm che kín một mẫu đất, vỏ cây xanh đen, rắn chắc như vỏ sắt, trong như vách đá cổ… Dưới chân thành chừng sáu, bảy chục thước có am đá trăng ngoảnh ra phía đông, hai bên tả hữu vách đá dựng đứng, bên trên có tảng đá che phủ, đứng ngoài nhìn vào thấy như động sâu, có nơi uốn lượn như nơi rộng. Người ta lấy gạch đá xây tiếp vào thành km. Trong am đặt tượng Quan Âm, nộm đá tượng hàm rồng. Người ta là cái am. Trong am đặt tượng trưng cho đồng nàn nộm gỗ đồng nữ tay cân hướng đông nam, tay cầm chuy đuổi quỷ, một đồng nữ tay cầm kính chiếu yêu. Am này là am Thánh Mẫu… Bên phai am có chùa Phổ, phải chùa là dòng khe nước chảy ra từ trong vách quanh năm không cạn, nước khe ây có mang . bể nước trong chùa… Bên trái chùa có đến 1. vương núi Hồng (có một số tài liệu chép là đền vương), trong đền có tấm biển vua ban cha vàng. Phía dưới miếu là mấy nếp nhà ở và nha của các nhà sư. Một dãy suối xanh, sóng tàn. khoảnh… theo bậc đá đi lên, mỗi bước lại một sắc khác nhau, lên cao trong khắp bốn phương , là nơi danh thắng đệ nhất ở châu Hoan ta”…

Đó là cảnh trí chùa Hương đầu thế kỷ XIX. | Một số sách cũng chép vài chi tiết về am và chùa, cho biết đến Thiên vương có niên đại thì thuộc Minh (1407-1427). Năm Ất Dậu (1885) chùa bị là đến Thiên ban chữ thiếp A ở và nhà bếp sóng tùng vạn lại một cảnh

cháy, đền cũng cháy một phần. Đến năm Tân Sửu. niên hiệu Thành Thái thứ 13 (1901) Tổng đốc An Tĩnh là Đào Tấn mới cho xây dựng lại chùa. Bấy giờ ngôi chùa xưa đã mất. Dấu vết còn lại là một ít gạch có chữ, hoa văn đời Trần, mà sau này người ta dùng xây lại tường am và chùa mới. Trong chùa này còn lại quả chuông lớn đúc thời Lê (Bài minh trên chuông ghi ngày rằm, tháng tám năm Tân Dậu, có thể là năm thứ hai đời Cảnh Hưng 1741) và khá nhiều tượng phật thời Lê, Nguyễn.

Đến Thiên vương (tức đến Đại vương núi Hồng) xưa rất đẹp, tường dưới bàn thờ có hình bát quái trên treo biến vua ban, nay cũng đã khác. Mấy cây thông lớn ở bên nền Trang vương tương truyền có từ đời Trẻ đến đầu thế kỷ này cũng chỉ còn trơ gốc vì chết cháy.

– Hiện nay các công trình kiến trúc chính (đến, am, chùa) vẫn giữ được gần nguyên vẹn dáng vẻ ban đầu thế kỷ XX không còn. Do chính xác xây d và các thời kỳ tia rằng dựa theo sách truyền lại truyền là rằng do kỳ tiên – XX. Phật phá, bia ký chùa Hương Tích . Do đó chúng ta không biết năm tháng xây dựng chùa, các nhà tu hành đầu tiên : Lờ tiếp theo ở chùa này. Chúng ta chỉ biết theo sách “Hương Sơn bảo quyền” từ lâu đã

nên bị vua cha ruồng rẫy, phần chí nàng bỏ ra – Aha. Viên quan võ kia được Vua sai đi trừng trị hàng. Hắn phóng hoá đốt chùa. Nhưng Diệu Thiện và các tăng ni được Phật che chở cứu thoát. Phật lại cai Bach Hổ đưa nàng trốn sang nước Việt Thường thị. Đến trước hang động một ngọn núi cao, mà ngày nay là Ngàn Hống, nàng Diệu Thiện ở lại dựng am tu hành. Chẳng bao lâu, Trang vương bị bệnh nặng. Thầy thuốc bảo phải có trong mắt và bàn tay của một người con gái tự nguyện hiến dâng lên mới chữa khỏi. Hai con gái lớn không ai chịu hy sinh. Nghe tiếng ni cô ở Việt Thường, vua liền sai người sang cầu cứu. Diệu Thiện biết cha mình là kẻ độc ác, nhưng do độ lượng, từ bi, sẵn sàng cứu vớt chúng sinh, nàng vui lòng móc mắt, chặt cánh tay mình gang cho cha. Trang vương được thuốc, khỏi bệnh, Sài người sang Ngàn Hống tạ ơn, mới biết người cứu mình chính là Diêu Thiên, cô gái út đã từng bị Vua là ruồng bỏ… Phật cảm vì tấm lòng của Diệu Thiện, 1 hóa phép cho mắt nàng sáng lại, tay nàng mọc trở lại… Sau khi hóa, nàng Diệu Thiện trở – Phật Quan Âm …

Câu chuyện kể trên đây là dựa theo kinh nghiêm. Kinh này chép: Về vô số kiếp trước. Phật hiệu là Quan Thế Âm Như Lai, sau thư, Quan Âm (vì chữ “thế” là tên huý của vua Đườn. Tôn, Trung Quốc (627-650). Tượng Quan Âm + có 32 tay, hay “nghìn tay nghìn mắt”. Nhân tí- 8 pháp sư Đạo Tuyên đời Nguyên mới chép một chuyện: “Trong “kiếp quá khứ, có người tên là H. Nghiêm sinh ra ba con gái có tướng mạo “Phật thà. thủ thiên nhãn” và đều tu hành đắc đạo”. Lại chuyện Hoa Nguyên, người Trung Quốc chuyến thành chuyện Việt Nam: “Con út của Sở Trang vương là Diệu Thiện đến tu hành ở động Hương Tích, Ngàn Hống…” và nàng Diệu Thiện ở đây không chỉ chân tu, chí nhân mà còn kiên cường, dám chống lại cái ác”.

Câu chuyện trên đây còn có một chi tiết nói về mối quan hệ giữa chùa Hương Tích Ngàn Hống và chùa Hương Tích ở Chương Mỹ, Hà Tây.

Theo “Hương Sơn thiên trù thiên phả” thì chùa Hương ở Hà Tây do một Hoà thượng tìm ra địa điểm và cho xây dựng vào cuối niên hiệu Chính Hoà (16801704) đời Lê Hy Tôn. Còn truyền thuyết về chùa Hương Ngàn Hống thì nói: “Chùa Hương Hà Tây là nơi nàng Diệu Thiện đi qua và là nơi thờ vọng?”.

Một truyền thuyết khác, hợp lý hơn: “Xưa Els người ta thường đến am Thánh Mẫu chùa Hương, để cầu tự. Ông con trai đặt tên. Trinh (không rõ .được Thế tử ơn Phật tổ S. Lộc Hiệp trấn họ Trần cầu tự ở đây sinh ba tắt tên là Hồng, Hương, Tích. Một chúa A hông rõ chúa nào) cũng vào cầu tự, sinh

. Hàng năm chúa sai người tới làm lễ tại Sau thấy vùng Hương Sơn Hà Tây phong Lần đẹp hơn, lại gần kinh đô nên cho xây gian đi về lễ Phật, khỏi phải vào Ngàn Hồng (V) cây chùa Hương Hà Tây cũng gọi theo tên cảnh có phần đe, chùa để tiến độ và xa xôi. Vì vậy ch)Ngàn Hộng từ xa Thắng cảnh Hương Tích, danh lam Hương Tích – Hống từ xưa đã được nhắc đến, không chỉ ở Hoan mà khắp nơi đều biết. Ngọn núi ngôi a này đã từng in sâu dấu ấn đậm đà trong thơ – tạo nhân mặc khách. Thái Thuận, Phó Nguyên ý tao đàn của Lê Thánh Tông (giữa thế kỷ XV) viết trong bài “Nhớ chùa Hương”:

“Bỗng nhớ chùa Hương Tích

Khe suối đá gập ghềnh

Dấu Quan Âm ẩn náu

Am Thánh Mẫu tu hành

Biết gì ngoài mây rũ

Muôn thuở tiếng chậu Hoan…”

Hàng năm đến ngày 18 tháng 2 âm lịch, ngày Diệu Thiện hóa Phật là hội chùa Hương, nhưng hội lớn thì ba năm mới mở một lần “tháng giêng Đô Đài, tháng hai Hương Tích”. Hàng nghìn thiện nam tín “4 du khách trong Nam ngoài Bắc và nhân dân – Phương đến dự Hội. Có những năm hội chùa kéo dài mười ngày liên mới vãn. Dọc đường từ lân núi đến cửa chùa, lều quán san sát, người đi dự tấp nập, ban đêm đèn đuốc sáng rực một vùng…


BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên đăng nhập