Chùa Minh Tịnh – Bình Định

0
29
  • Tên goi: Chùa Minh Tịnh.
  • Tọa lạc : số 35 đường Hàm Nghi, phường Ngô Mây, thành phố Quy Nhơn.
  • Năm xây dựng : 1917.
  • Người xây dựng : Thiền sư Chơn Phước Huệ Pháp.
  • Chủ trì hiện nay :Thiền sư Như Hùng, tự Minh Oai.

Toàn cảnh chùa Minh Tịnh hiện nay.

KIẾN TRÍ TỔNG QUAN
Trước chùa có Tam quan xây đá, ba cửa cuốn vòm, mái đúc xi măng giả ngói. Cửa giữa cao gần 4m, hai cửa hai bên thấp hơn, nhìn chung khá đồ sộ và vững chãi.
Trên cửa giữa có cổ lâu, đắp nổi hàng Phạn văn và tượng Phật Thích Ca thành đạo. Dưới vòm cuốn có biển hiệu chùa: 敕 賜 明 靜 寺 Sắc Tứ Minh Tịnh Tự (chùa Minh Tịnh được vua ban biển Sắc tứ). Hai bên có hai câu liễn:
明 開 般 若 門 回 歸 萬 善
靜 入 菩 提 地 絕 染 壹 塵
Phiên âm: 
Minh khai Bát nhã môn, hồi quy vạn thiện,
Tịnh nhập Bồ đề địa, tuyệt nhiễm nhất trần.
Dịch nghĩa:
Sáng suốt mở cửa Bát nhã, muôn thiện trở về,
Lặng yên vào đất Bồ đề, mảy bụi không nhiễm.
Trên mày cửa tả đắp nổi bốn chữ 國 泰 民 安 Quốc Thái Dân An (nước yên dân ổn). Trên mày cửa hữu đắp nổi 4 chữ 風 調 雨 順 Phong Điều Vũ Thuận (gió hòa mưa thuận)Hai bên trụ Tam quan có 2 câu liễn:
_前 近 路 遊 客 往 來 同 瞻 禮 佛
後 遠 山 鳥 獸 歸 回 壹 聲 仰 祖
Phiên âm:
Tiền cận lộ, du khách vãng lai, đồng chiêm lễ Phật,
Hậu viễn sơn, điểu thú quy hồi, nhất thanh ngưỡng Tổ.
Dịch nghĩa:
Trước cận đường, du khách đi qua đồng lòng lễ Phật,
Sau cách núi, thú chim trở lại cất tiếng tôn sư.
Mặt sau Tam quan có hai câu liễn nữa:
明 闇 判 陰 陽 循 寰 逢 晝 夜
靜 動 通 天 地 開 盒 定 乾 坤
Phiên âm:
Minh ám phán âm dương tuần hoàn phùng trú dạ
Tịnh động thông thiên địa khai hạp định càn khôn.
Dịch nghĩa:
Tỏ mờ tách âm dương, xoay quanh ngày đêm tiếp,
Động lặng thông thiên địa, đóng mở đất trời yên.
明 開 道 行 廣 發 慈 心 能 救 苦
靜 入 禪 門 弘 傳 正 法 度 迷 人
Phiên âm:
Minh khai đạo hạnh, quảng phát từ tâm năng cứu khổ,
Tĩnh nhập thiền môn, hoằng truyền chánh pháp độ mê nhân.
Dịch nghĩa:
Sáng suốt mở hạnh đạo, rộng phát lòng lành vớt nỗi khổ,
Lặng yên vào cửa Thiền, xa truyền pháp chánh độ người mê.
Bên trong ngõ, giữa sân có tượng đài Phật Thích Ca nhập định ở Long Cung. Sau tượng đài tới chánh điện.
Mặt tiền chùa Minh Tịnh (mới được trùng tu).
Chánh điện là một ngôi nhà ngang, tọa hướng Đông, xây gạch lợp ngói, dài 12m, rộng 8m, diện tích 96m2, nền cao 1m, từ nền lên nóc cao 8m, mái chồng diêm, có cổ lầu, trên nóc có tượng lưỡng long chầu chữ A. Mặt tiền có ba cửa gỗ mở vào chánh điện. Trước hè có 4 trụ đều đắp liễn:
Câu liễn trên mặt hai trụ giữa:
明 照 佛 家 西 竺 祇 園 千 古 遠
靜 傳 禪 教 南 宗 臨 濟 萬 今 來
Phiên âm:
Minh chiếu Phật gia, Tây Trúc Kỳ Viên thiên cổ viễn,
Tịnh truyền Thiền giáo, Nam Tông Lâm Tế vạn kim lai.
Dịch nghĩa:
Sáng chiếu Phật gia, Tây Trúc Kỳ Viên thiên cổ chiếu,
Tịnh truyền Thiền giáo, Nam Tông Lâm Tế vạn niên truyền.
Câu đối hai bên trụ biên:
明 看 海 前 潮 音 吟 妙 法
靜 觀 山 後 鳥 語 詠 真 詮
Phiên âm: 
Minh khán hải tiền, triều âm ngâm diệu pháp,
Tịnh quan sơn hậu, điểu ngữ vịnh chơn thuyên.
Dịch nghĩa:
Rõ xem biển trước, tiếng sóng ngâm pháp diệu,
Lặng xét non sau, lời chim vịnh lẽ mầu.
Trong điện có ba bức hoành, bức giữa đắp hiệu chùa 明 靜 寺Minh Tịnh Tự: Chùa Minh Tịnh; tấm tả đắp: 僧 保 障Tăng Bảo Chướng: Nhà sư làm bức trướng bảo vệ chùa; tấm hữu đắp 葉 流 芳Diệp Lưu Phương: Đời nọ nối đời kia lưu truyền tiếng tốt thơm tho.
Chánh điện chùa Minh Tịnh hiện nay.
Bên dưới tấm hoành ở gian giữa có khám thờ Phật, bên trong tôn trí tượng Đức Bổn Sư và chư thánh. Hai bên có câu liễn:
兜 率 降 皇 宮 菩 提 座 雪 山 六 載
耆 闍 敷 教 網 拘 尸 城 鶴 樹 雙 林
Phiên âm:
Đâu Suất giáng hoàng cung, Bồ Đề tọa Tuyết sơn lục tải,
Kỳ Xà phu giáo võng, Câu Thi thành hạc thọ song lâm.
Dịch nghĩa:
Rời trời Đâu Suất xuống cung vua, trong núi Tuyết, dưới Bồ Đề, sau sáu năm biết đường giải thoát,
Mở hội Linh Sơn bày lưới pháp, tại thành Câu Thi nơi hạc thọ, giữa hai cây vào cảnh Niết Bàn.
Mặt tiền Tổ đường chùa Minh Tịnh.
CHÙA MINH TỊNH TỪ TRIỆU KIẾN ĐẾN NAY
Nguyên thủy chùa là một thảo am tại đồi cát thuộc thôn Cẩm Thượng. Am nầy của hai Phật tử Trừng Quế và Trừng Quy cúng cho Thiền sư Chơn Phước Huệ Pháp vào năm Đinh Tỵ (1917).
Năm sau, Mậu Ngọ (1918), trên cơ sở thảo am, Thiền sư xây dựng thành ngôi chùa có đủ chánh điện, Đông Tây đường theo kiến trúc mới, xây xông lợp ngói khá xinh và trang nghiêm. Xong, làm lễ khai sơn đặt hiệu là Minh Tịnh tự.
Năm Bảo Đại thứ 19 (1944), chùa được triều đình Huế ban biển Sắc tứ.
Năm 1963 mở đàn truyền giới tại chùa Minh Tịnh, trụ trì chùa nầy là Hòa thượng Chơn Phước Huệ Pháp làm Đường đầu.
Năm 1963, vì nhu cầu mở rộng phi đạo phi trường Quy Nhơn, chùa nằm trong vùng phải giải tỏa, bị bắt buộc phải thiên di đến khu đất cấp tại khu 6, là nơi mà chùa hiện tọa lạc. Đệ tử của Hòa thượng là Thiền sư Trí Giác phụ trách việc dời chùa, xây dựng lại địa chỉ mới một ngôi Tùng lâm khá khang trang mà quy mô còn tới ngày nay là ngôi Chánh điện và Đông Tây đường.
Năm Ất Hợi (1995) tái thiết Tổ đường khá đồ sộ như tôi đã nói trên.
Tượng Phật Di Lặc trong khuôn viên chùa Minh Tịnh.
TRỤ TRÌ CHÙA MINH TỊNH
1. Tổ khai sơn: Thiền sư Chơn Phước Huệ Pháp (có tiểu sử riêng).
2. Đương kim trụ trì: Thiền sư Như Hùng, tự Minh Oai, hiệu Trí Giác. Thế danh Nguyễn Ngọc Anh, sinh năm 1942 tại An Thái, An Nhơn. Con ông Nguyễn Cư và bà Hồ Thị Nhu.
Năm 11 tuổi xuất gia tại chùa Minh Tịnh do Hòa thượng Huệ Pháp thế độ. Năm 1957 thọ Sa di tại chùa Nghĩa Phương, Nha Trang do Hòa thượng Bổn sư làm Đường đầu Hòa thượng. Năm 1961, khi vừa tròn hai mươi tuổi thọ Đại giới và thủ Sa di giới đàn chùa Từ Lâm, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi do Tăng cang Hòa thượng Thích Trí Hưng làm Đường đầu. Học đại học Sài Gòn. Trụ trì chùa Minh Tịnh từ năm 1975 đến nay. Hiện làm Chánh đại diện Phật giáo thành phố Quy Nhơn.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here