Chùa Phước Sa – Bình Định

0
34
  • Tên gọi : Chùa Phước Sachùa Phật Lồi.
  • Tọa lạc : thôn Xương Lý, xã Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn.
  • Năm xây dựng : 1921.
  • Người xây dựng : Nhân dân Nhơn Lý.

Chùa Phước Sa đang trong giai đoạn trùng tu.

Chùa tọa lạc trên một ngọn đồi nằm giữa đồng cát ở Đông Bắc bán đảo Phương Mai thuộc làng Xương Lý phủ Tuy Phước, nay là thôn Xương Lý, xã Nhơn Lý, thành phố Quy Nhơn. Tục gọi là chùa Phật Lồi.

TỪ CHUYỆN PHẬT LỒI
Trong tám chục năm nay, dân làng Xương Lý không ngớt truyền tụng câu chuyện “Phật Lồi” xảy ra tại làng họ như sau:
Truyện kể rằng: Vào năm Kỷ Mùi (1919), mùa Đông, biển mất mùa, dân tình đói kém. Bấy giờ vào thượng tuần tháng 11, ở xóm Lý Hòa làng Xương Lý có một ngư ông đã đứng tuổi, tên là Võ Bích, tên con là Thước nên thường gọi ông Thước, sáng sớm nọ rời nhà ra bãi cát đào còng về ăn đỡ bữa. Ông vừa tới mé dốc cát trắng (nay là đầu giếng Lý Hòa) thì thấy một pho tượng từ dưới đất lồi lần lần lên trên mặt cát. Tượng lồi tới đâu thì ánh sáng mặt trời chiếu vào pho tượng khiến tượng tỏa hào quang tới đó. Ông Bích bị hào quang chiếu thẳng vào mắt thì sợ quá ù té chạy về nhà thì ngất xỉu trước cửa. Bà con láng giềng thấy thế đến cấp cứu, giây lâu ông tỉnh lại nhưng cứ ôm bụng rên la. Có người cho rằng ông đã làm điều gì thất kính khiến trên trước quở phạt, bèn hỏi từ sáng đến giờ ông đã đi đâu? Thấy gì? Ông kể lại chuyện đào còng rồi gặp tượng lồi tỏa hào quang ở dốc Cát Trắng. Mọi người nghe nói liền đổ xô đến nơi ấy thì thấy pho tượng đã lồi hẳn lên trên mặt cát và còn tiếp tục tỏa hào quang ra chung quanh. Họ cho người về báo với Hương chức trong làng. Lý trưởng làng Xương Lý bèn lập tức đến hiện trường. Ông ta cho rằng chung quanh pho tượng lồi ắt còn tượng hay cổ vật nữa nên đã cho dân làng đào xới cả vùng. Họ bắt gặp hai pho tượng nữa ở hai bên chỗ tượng lồi. Hai pho nầy bằng sành, màu da lươn. Đáng tiếc là một trong hai pho đã bị bể vì lưỡi cuốc đụng nhằm. Họ dùng nước giếng rửa sạch cả ba pho thì nhận ra pho lồi là tượng Bồ tát Quan Âm, hai pho kia là tượng Phật Di Lặc.
Dân làng Xương Lý từ già đến trẻ đều vui mừng. Họ cho rằng Bồ tát Quan Âm đã thị hiện ở làng họ thì từ nay về sau ắt Bồ tát sẽ phù hộ dân làng tai qua nạn khỏi, làm ăn khấm khá nên mọi người đều nhất trí rước tượng về làng thờ.
ĐẾN CHÙA PHƯỚC SA
Tượng Phật lồi chùa Phước Sa.
Đầu tiên, họ rước tượng về thờ tại ngôi miếu cổ bằng tranh trong xóm Lý Hòa. Năm sau, tháng 3 năm Canh Thân (1920), làng Xương
Lý cất một thảo am trên đầu núi Cấm tại rẫy ông Tín, rước tượng lên đấy để thờ.
Năm sau, Tân Dậu (1921), khoảng tháng 3 làng lập đình, trong thời gian nầy tượng bị mất lần thứ nhất. Số là, kể từ ngày làng Xương Lý có tượng Phật Lồi thì làng hưng vượng hẳn lên, người ở làng khác thấy thế bèn lén lấy tượng về làng mình để mong được tượng phù hộ. Hương chức làng Xương Lý dò biết được việc nầy, bèn cử người đến gặp Hương chức làng ấy, dùng lời lẽ phải trái biện biệt cho họ thông cảm rồi rước tượng về. Họ không dám để tượng trên am núi Cấm nữa mà đem về thờ trong chùa Ông (tên chữ là Hiệp Thiên tự), là chỗ mà chùa Phước Sa hiện nay tọa lạc, để tiện việc bảo quản vì chùa này có người ở và cũng gần làng xóm.
Sang năm sau, Nhâm Tuất (1922) làng cất lại am núi Cấm với quy mô to lớn hơn, sườn gỗ mái tranh, đặt tên là Phước Sa tự. Rằm tháng 7 năm nầy, rước tượng Quan Âm từ chùa Ông về an vị tại đây. Vì vậy, chùa còn có tên là chùa Bà (Bà tức là Bồ tát Quan Âm thị hiện nữ thân tại Phổ Đà Sơn trong biển Nam Hải. Đừng lầm với bà Thiên Hậu Thánh Mẫu hoặc Thiên Y Diễn Ngọc Phi có chùa thờ rải rác khắp miền Trung). Làng cắt cử cư sĩ thay phiên nhau lo việc hương khói tại chùa.
Mãi đến tháng 7 năm Quý Mùi (1943) nhân Hòa thượng Như Từ Tâm Đạt chùa Thiên Bình đến Ngõ Lồi, Xương Lý làm lễ phổ độ chư hương linh nịch thủy trong vụ bão mùng 4 tháng 3 năm ấy, Hương chức làng Xương Lý thiết tha cầu nguyện Ngài đứng làm lễ khai sơn cho chùa Phước Sa, Ngài nhận lời. Một buổi lễ khai sơn tổ chức tại chùa Phước Sa có đông đảo chư sơn trong tỉnh tham dự được diễn ra sau đó. Từ đó, Phước Sa tự chính thức được Tòng lâm công nhận.
Bấy giờ người Giám tự là Võ Ngọc Hồ12 (1889-1968) là một nhà Nho, tuy được làng cử làm Giám tự nhưng chưa quy y Tam Bảo, nhân dịp nầy ông Võ bèn xin Hòa thượng cho quy y. Hòa thượng làm lễ quy y cho ông, đặt tên pháp là Thị Niệm, cho thọ Ngũ giới làm Ưu-bà-tắc, cho tiếp tục làm Giám tự chùa Phước Sa như trước.
12 Thân sinh nhà nghiên cứu văn học & nghệ thuật tuồng Vũ (Võ) Ngọc Liễn và nhà thơ Võ Ngọc An hiện nay.
Năm Ất Dậu (1945), trung tuần tháng 4, một tượng nữa lồi lên tại gò đất xóm Lý Hòa, đó là tượng Bồ tát Chuẩn Đề. Làng hay được việc nầy liền cho người đến tận nơi tắm rửa cho tượng rồi đặt lên kiệu rước về thờ tại chùa Phước Sa. Đám rước thật trọng thể.
Qua năm sau, Bính Tuất (1946), chùa cất nhà Tây sườn gỗ mái tranh, kinh phí do bổn đạo đóng góp. Đúc lại hai tượng Di Lặc do đạo hữu Nguyễn Hậu đốc công đúc.
Trong năm nầy, cư sĩ họ Võ thấy mình đã lớn tuổi, con cái đã nên gia thất, sau nhiều năm ở chùa đã giác ngộ lẽ sanh tử là vô thường nên có ý ly thân cát ái để cầu đạo giải thoát. Sau khi thu xếp việc nhà, ông liền đến chùa Thiên Bình cầu Hòa thượng Tâm Đạt cho mình xuất gia. Hòa thượng chấp thuận, truyền thập giới cho ông tại phương trượng, độ ông làm Sa di, còn đặt pháp hiệu cho ông là Thiện Giai, cho ông trở về chùa Phước Sa giám tự như trước.
Năm Nhâm Thìn (1952), chùa Thiên Bình mở trường kỳ 3 tháng rồi khai đàn thí giới, Sa di Thiện Giai được thọ Đại giới tại giới đàn này. Đương nhiên chính thức làm trụ trì Phước Sa tự. Hai năm sau, Thầy đứng chủ trương tái thiết chùa Ông rồi dời Phước Sa tự về đây.
Nguyên chùa Ông bị chiến tranh làm hư hoại trong thời kháng Pháp (1945-1954), thể theo nguyện vọng của bổn đạo chùa Phước Sa cùng Phật giáo đồ toàn xã, chùa được xây dựng lại bằng vật liệu kiên cố, mất hai năm mới xong. Rằm tháng 7 năm Bính Thân (1956) làm lễ nghinh Phật nhập điện, tượng Bồ tát Quan Âm được rước từ chùa Phước Sa trên đỉnh núi Cấm đến thờ tại đây lần này là lần thứ 2. Phước Sa tự cố định tại đây từ ấy đến nay. Chùa cũ trên núi Cấm đã được dỡ dọn, nay vẫn còn nền cũ và vườn chùa.
Đến năm Mậu Tuất (1958), trụ trì Thiện Giai hưng công tu bổ chùa một lần nữa mà cũng là lần sau cùng trong đời thầy. Bởi lẽ, mười năm sau, Mậu Thân (1968) Thầy tịch. Đệ tử lớn là Đại đức Đồng Nhiên, pháp hiệu Hạnh Đạo kế vị trụ trì Phước Sa tự từ năm Canh Tuất (1970).
Thầy Đồng Nhiên vừa nhậm chức trụ trì thì đã chuẩn bị tài lực đến ba năm sau, Quý Sửu (1973) đại trùng tu toàn bộ tự viện mà cục diện còn tới ngày nay. Thầy trụ trì được 8 năm thì quyền trụ trì chuyển sang sư đệ là Đại đức Thích Đồng Lực vào năm Mậu Ngọ (1978).
Thầy Đồng Lực vừa nhận chức thì gặp việc không may là pho tượng Quan Âm một lần nữa bị kẻ gian lấy cắp vào đêm 23 tháng 9 năm Mậu Ngọ (1978). Nhờ bổn đạo tận tâm, sau nhiều ngày truy tầm đã gặp được tượng, quy hoàn bổn tự.
Thầy trụ được 4 năm thì rời chùa di trú nơi khác vào ngày 10 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1982), bổn đạo chùa Phước Sa đã họp lại bầu một Ban hộ tự gồm các tại gia đệ tử để trực tiếp quản lý chùa và điều hành Phật sự.
Năm Ất Sửu (1985), Ban hộ tự hưng công xây dựng được 66 bậc đá từ chân đồi lên cổng chùa, vào tới chân tượng đài Quan Âm sái thủy chiều dài hơn 150m, chiều ngang mỗi bệ từ 8m đến 15m. Kinh phí do bổn đạo đóng góp.
Từ năm Tân Mùi (1991) đến năm Quý Dậu (1993) nhờ có Phật tử ở nước ngoài nhiều lần gởi tiền về cúng dường xây dựng chùa mà Ban hộ tự có kinh phí tu bổ nhà Tổ, nhà Đông, nhà Tây, xây hè trước chánh điện, xây cổng chùa, nâng sân, đặt tượng đài Quán Âm sái thủy, lắp ráp hệ thống dẫn nước phục vụ sinh hoạt tại chùa.
Đến tháng 2 năm Kỷ Mão (1999), Giáo hội bổ nhiệm Đại đức Thích Đồng Tín về chùa làm trụ trì, việc xây dựng hiện còn tiếp tục.
KIẾN TRÍ TỔNG QUAN
Chùa ngoảnh mặt về Nam. Bên phải chùa là đầm Thi Nại bắt đầu từ Đông Phù Cát trải dài đến đầu hải cảng Quy Nhơn. Chùa dựa lưng vào hòn núi Cấm cây cối tươi tốt quanh năm. Bên trái chùa là Thái Bình Dương sớm chiều rì rào sóng vỗ. Chùa đặt vào nơi cảnh trí hữu tình, lại có sự tích khá hy kỳ nên hằng năm hấp dẫn nhiều du khách đến tham quan cùng đàn na tín thí mười phương đến thăm viếng.
Du khách đến chân đồi, leo lên hơn 60 bậc cấp đá thì tới cổng chùa.
Cổng chùa xây gạch, cao khoảng 4m, biển ngạch để ba chữ hiệu chùa bằng Quốc ngữ: Chùa Phước Sa. Hai bên có câu liễn:
福 寺 莊 嚴 法 寶 弘 揚 開 覺 路
沙 塵 清 潔 慈 光 普 照 入 禪 門
Phiên âm:
Phước tự trang nghiêm, pháp bảo hoằng dương khai giác lộ,
Sa trần thanh khiết, từ quang phổ chiếu nhập thiền môn.
Dịch nghĩa:
Chùa phước nghiêm thay! Báu pháp dương cao đường giác mở,
Cát thần sạch vậy! Ánh lành chiếu khắp cửa Thiền vào.
Qua khỏi cổng tới tượng đài Quan Âm sái thủy. Tượng bằng xi măng cao gần 3m, đứng trên chân đế cao hơn 1m, ở giữa sân, tăng thêm vẻ mỹ quan cho chùa.
Sau lưng tượng đài là chánh điện.
Chánh điện chùa Phước Sa.
Chánh điện là một ngôi nhà ngang, ngang 10m, dọc 6m, diện tích 60m2, cao từ nền lên tới 8m, xây gạch lợp ngói, hai mái hai chái, trên nóc đắp lưỡng long tranh châu. Trước chánh điện có hè rộng 2m, cao 5m, trên đúc bằng, trước có chấn thủy, ở giữa chấn thủy đắp ba chữ hiệu chùa bằng Hán tự:
福 沙 寺
Phước Sa Tự
(Chùa Phước Sa)
Bên trong điện, bệ thờ Phật đặt ở gian giữa. Trên bệ tôn trí bảo tượng Đức Bổn Sư bằng xi măng cao 1m50 kể cả tòa sen. Hai bên tôn trí hai pho tượng Quan Âm và Di Lặc bằng sành đều cao khoảng 0m40 từ trong cát lồi lên tại xóm Lý Hòa trong thôn vào năm Kỷ Mùi (1919) và một pho tượng Chuẩn Đề bằng đồng cao khoảng 0m40 cũng lồi lên tại gò đất Lý Hòa vào năm Ất Dậu (1945).
Trước bệ, trên hương án có tượng Di Đà cao khoảng 2m đứng giữa hai tượng Hộ Pháp đều cao khoảng 0m70. Tất cả đều bằng Xi măng và đều là tượng hàng khá phổ biến trong vài chục năm nay.
Tại đây có câu liễn:
福 德 莊 嚴 三 世 如 來 垂 接 度
沙 黃 成 就 十 方 檀 信 共 皈 依
Phiên âm:
Phước đức trang nghiêm, tam thế Như Lai thuỳ tiếp độ,
Sa huỳnh thành tựu, thập phương đàn tín cộng quy y.
Dịch nghĩa:
Phước lớn trang nghiêm, Phật ba đời đưa tay dẫn dắt,
Cát vàng thành tựu, người mười cõi dốc chí nương theo.
Sau Chánh điện là nhà Tổ.
Nhà Tổ song song với Chánh điện, kích thước như Chánh điện, xây gạch lợp ngói, đứng trên một chân đế cao hơn Chánh điện mấy phân.
Bên trong Chánh điện, bàn thờ Tổ được đặt ở gian giữa. Giữa bàn thờ có long vị Tổ khai sơn là Hòa thượng Như Từ Tâm Đạt: Trụ trì chùa Thiên Bình ở An Nhơn và long vị Đại đức Thị Niệm Thiện Giai là vị trụ trì đầu tiên có long vị thờ tại chùa, có bảo tháp trước chùa.
Tại đây có câu liễn:
方 便 門 開 當 承 佛 事
丈 夫 志 向 繼 業 祖 師
Phiên âm:
Phương tiện môn khai đương thừa Phật sự,
Trượng phu chí hướng kế nghiệp Tổ sư.
Dịch nghĩa:
Mở cửa phương tiện làm việc Phật,
Bền chí trượng phu nối nghiệp thầy.
Thiền phòng, Trai phòng, Trù phòng đều ở sau nhà Tổ.
TÓM TẮT LỊCH ĐẠI TRỤ TRÌ PHƯỚC SA TỰ.
1. Khai tổ: Hòa thượng Như Từ Tâm Đạt, đời pháp 41 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo, trụ trì chùa Thiên Bình ở An Nhơn, chính thức khai sơn chùa Phước Sa năm 1943.
( Xin xem tiểu sử trong bài chùa Thiên Bình ở tập Trung)
2.Trụ trì: Thiền sư Thị Niệm, Pháp hiệu Thiện Giai, thế danh Võ Ngọc Hồ, đời pháp 42 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo, đệ tử Hòa thượng Tâm Đạt. Xuất thân là một nhà Nho, đầu Thiền nơi Hòa thượng Tâm Đạt: Quy y năm 1943, được thế độ làm Sa di năm 1946, được thí giới làm Tỳ kheo tại giới đàn chùa Thiên Bình năm 1952 do Hòa thượng Không Hoa Huệ Chiếu chùa Thập Tháp làm Đường đầu. Từng làm Hội trưởng hội Phật giáo Cứu quốc xã Hưng Xương (năm 1946). Từng vâng giáo chỉ Hòa thượng Bổn sư đứng khai sơn hai chùa Phước Hưng ở thôn Hưng Lương, xã Nhơn Lý và chùa Phước Hội ở thôn Hội Lộc, xã Nhơn Hội trong khoảng thập niên 50. Là người chủ trương và thực hiện thành công việc thiên di Phước Sa tự từ đỉnh núi xuống đỉnh đồi (năm 1954), tiện cho việc lễ bái và tu học của Phật tử địa phương và khách thập phương. Một lần tu bổ chùa Phước Sa (năm 1958), tô tượng, thỉnh chuông, mua trống. Nuôi dạy được hai đệ tử thành danh là Đồng Nhiên và Đồng Lực.
Sư sinh năm Kỷ Sửu (1889), an nhiên thị tịch tại chùa Phước Sa vào giờ Tuất (20 giờ) ngày mồng 2 tháng 7 nhuần năm Mậu Thân, Tây lịch nhằm ngày 25/8/1968, hưởng thọ 80 tuổi âm tức 79 tuổi dương. Xuất gia được 22 năm. Nhập tháp trước chùa, bên tả cổng chùa. Long vị thờ tại nhà Tổ, lòng vị ghi:
嗣 臨 濟 正 宗 四 十 二 世 福 沙 堂 上 開 山 福 興 福 會 二 寺 諱 是 念 號 善 階 大 師 覺 靈 蓮 座 
己 丑 年 良 月 日 時 來
戊 申 年 七 潤 月 初 二 日 戌 辰 去
Phiên âm: 
Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhị Thế Phước Sa Đường Thượng Khai Sơn Phước Hưng Phước Hội Nhị Từ Huý THỊ NIỆM Hiệu THIỆN GIAI Đại Sư Giác Linh Liên Tòa.
Kỷ Sửu niên lương nguyệt nhật thời lai.
Mậu Thân niên thất nhuận nguyệt sơ nhị nhật Tuất thời khứ.
Dịch nghĩa: 
Tòa sen, nơi ngự của Giác linh Đại sư pháp danh Thị Niệm, Pháp hiệu Thiện Giai, đời pháp 42, nối tiếp tông chánh Lâm Tế làm trụ trì chùa Phước Sa, khai sơn hai chùa Phước Hưng, Phước Hội.
Sinh năm Kỷ Sửu (1889) tháng ngày giờ tốt.
Tịch năm Mậu Thân (1968) tháng 7 nhuận ngày 2 giờ Tuất.
3. Trụ trì: Thiền sư Đồng Nhiên, pháp hiệu Hạnh Đạo đời pháp 43 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo, đệ tử lớn của Thượng tọa Thiện Giai, kế vị thầy làm trụ trì chùa Phước Sa từ năm 1968. Sau khi bổn sư quy tịch, Ngài cầu pháp Mật tông với sư ông Tâm Đạt và sư thúc Liễu Không tại chùa Thiên Bình.
Năm 1973, Ngài trùng tu chùa Phước Sa và xây dựng trường Bồ Đề. Năm 1979, Ngài khai dỡ hoang đất nơi am tranh gần miếu Lý Hòa nơi di tích Phật bà Quan Thế Âm lồi lên từ đồng cát năm 1919 và xây chùa đặt tên là Giác Hải.
Năm 1989, Ngài đi dự một đám kỵ ở chùa xa, vì trời mưa gió lầy lội nên Ngài bị té cầu tre và thọ bệnh. Ngài viên tịch ngày 23 tháng 10 năm 1989, nhục thân được nhập tháp tại chùa Giác Hải.
4. Trụ trì: Thiền sư Đồng Lực, đời pháp 43 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo, đệ tử Thượng tọa Thiện Giai, sư đệ Thượng tọa Đồng Nhiên, kế tiếp sư huynh làm trụ trì Phước Sa từ năm 1978. Sư trụ được 4 năm thì rời chùa vào ngày 10/7/1982 di trú nơi khác.
5. Ban hộ tự: Ban hộ tự được toàn thể bổn đạo chùa Phước Sa bầu lên tiếp quản chùa Phước Sa ngay sau khi sư Đồng Lực rời chùa (tháng 7 năm 1982). Ban nầy có công xây 66 cấp trên đường lên chùa, tu bổ tự viện, đặt tượng đài Quan Âm, xây cổng, lắp ráp hệ thống nước v.v… từ năm 1991 đến năm 1993.
6. Đương kim trụ trì: Thiền sư Đồng Tín, đời pháp 43 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo, đệ tử Hòa thượng Thị Dực Liễu Không chùa Thiên Bình, được Giáo hội tỉnh bổ nhiệm làm trụ trì chùa Phước Sa đầu năm 1999 thể theo nguyện vọng của Ban hộ tự và Phật tử địa phương.
* * *
Kể từ khi bảo tượng Bồ tát Quan Âm xuất hiện ở thôn Xương Lý, đến nay đã 81 năm (1919-2000), chùa Phước Sa khai sơn đến nay đã 57 năm (1943-2000), trải qua bao dâu biển của cuộc đời mà bảo tượng vẫn còn đó và chùa ngày càng nguy nga tráng lệ. Nhờ ảnh hưởng của Phật giáo do chùa nầy xiển dương mà dân tình tại đây phong ngày càng thuần, tục ngày càng mỹ. Tôi chưa đến được nơi nầy. Những gì viết được trên đây là nhờ có hai bạn Hà Giao và Văn Khá cung cấp tư liệu. Xin có lời cám ơn hai bạn.
Và, xin có mấy vần đề tặng để khép lại bài viết về chùa Phước Sa.
Đề Chùa Phước Sa
Biên địa may thay có Phật Lồi,
Vẻ vang cho đất phúc cho người.
Phước Sa mãi vững chùa như núi,
Xương Lý thêm trong biển lẫn trời.
Thánh những từ bi nhành biếc rảy,
Phàm cùng tỉnh ngộ, đạo vào noi.
Mong sao mưa nắng quanh năm thuận,
Hương khói quanh năm đến vạn đời.
Tết Canh Thìn (2000).

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here