Chùa Sơn Long – Bình Định

0
27
  • Tên gọi : Chùa Sơn Long,Thiền thất Giang Long,chùa Hang.
  • Tọa lạc:  chân đồi xã Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, cách cầu Trường Úc khoảng 700m về phía Đông Bắc.
  • Năm xây dựng : 1680-1690.
  • Người xây dựng : Tổ Bửu Quang.
  • Trường phái : Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Chùa Sơn Long cũ

Theo bản “Lược Sử Chùa Sơn Long” lập tháng 4 năm 1996 thì:” Tổ Bửu Quang húy Thiệt Đăng tự Chánh Trí trác tích tại núi Trường Úc lập Giang Long Thiền thất vào năm nào không được biết một cách chính xác…nhưng căn cứ vào bài vị thờ Ngài hiện có tại chùa Sơn Long ghi rõ: Ngài sinh năm Kỷ Mão (1639) tịch năm Nhâm Dần (1722). Ngài là đệ tử của Tổ Pháp Bảo, húy Minh Hải. Tổ Pháp Bảo đã khai sơn Tổ đình Chúc Thánh tại Quảng Nam. Ngài sinh năm Canh Tuất (1610) tịch năm Bính Dần (1868). Từ đó ta có thể dự đoán là: Tổ Bửu Quang đến núi Trường Úc lập Giang Long Thiền thất trong khoảng những năm 1680-1690 niên hiệu Chánh Hòa nhà Lê, bấy giờ tuổi Ngài vào khoảng 40-50. Rất tiếc là hiện tại không còn tài liệu nào khác ngoài bài vị đang thờ Ngài tại chùa, do đó ta không biết rõ được danh tánh, sinh quán, thân thế, sự nghiệp của Ngài”.
Khảo sát bài vị Thiền sư Thiệt Đăng, tôi có mấy điểm nghĩ khác tác giả bản lược sử nêu trên (Bản lược sử tr 1-2).

1. Giang Long đã là Tự (chùa) chứ không còn là Thiền thất (am tu thiền) của một người. Bởi lẽ Thiệt Đăng đã là một vị Lão Hòa thượng thì đứng đầu một ngôi chùa lớn có đông đảo Tăng chúng và tín đồ chứ không còn là một tiểu Tăng tự tu trong một am nhỏ.
2. Thiền sư Thiệt Đăng chưa hẳn là khai Tổ chùa Giang Long. Bởi lẽ bài vị chỉ đề “Giang Long đường thượng” có nghĩa là “bề trên chùa Gang Long”. Tuy nhiên, “Mộ của Ngài hiện còn tại đồi Trường Úc, hướng Bắc Tổ đình Sơn Long” (bản lược sử, tr. 3) vừa được đương kim trụ trì cải táng về khu bảo tháp cách đây vài năm, nhìn lại các ngôi tháp thì trên Ngài không có ai nên có thể tạm chấp nhận quan điểm tác giả bản lược sử mà tôn Ngài làm khai Tổ chùa Giang Long, tiền thân chùa Sơn Long ngày nay.
3. Chùa Giang Long chưa thể được Thiền sư Thiệt Đăng khai sơn vào khoảng 1680-1690. Bởi lẽ niên đại sinh tịch bằng dương lịch của Tổ Minh Hải Pháp Bảo và Thiền sư Thiệt Đăng Bảo Quang do tác giả bản lược sử đưa ra làm cái mốc đoán định năm khai sơn cần phải xét lại.
Niên đại sinh tịch đầu tiên được xét tới là của Thiền sư Minh Hải Pháp Bảo. Theo tác giả bản lược sử thì Ngài sinh năm Canh Tuất (1610) nhưng theo Nguyễn Hiền Đức thì cũng là Canh Tuất mà là Canh Tuất của 60 năm sau, năm 1670 ( Xem lịch sử Phật Giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức, NXB TP.HCM, năm 1995, tập II, tr.8).
Sở dĩ có sự chênh lệch nói trên bởi ông Nguyễn Hiền Đức vin vào truyền thuyết cho rằng Thiền sư Minh Hải Pháp Bảo là đệ tử Tổ sư Nguyên Thiều thì tuổi tác nhất định phải nhỏ thua thầy. Còn tác giả bản lược sử thì theo kiến giải của Thượng tọa Mật Thể. “…Vậy ta có thể bảo những Ngài như Minh Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo, Minh Hành Tại Tại chỉ là những Ngài nằm dưới ngài Nguyên Thiều một chữ, gọi Ngài là Sư thúc hoặc Sư bá gì chớ chưa hẳn là đệ tử của Ngài cả” (Việt Nam Phật giáo sử lược của Mật Thể, Minh Đức xuất bản, tr.194)
Ta đã biết Tổ sư Nguyên Thiều còn có pháp danh Siêu Bạch cùng với 3 ngài có pháp danh khởi đầu bằng chữ Minh nói trên thuộc kệ phái Tổ Định Tuyết Phong: Hành Siêu Minh Thiệt Tế. Tổ Nguyên Thiều đời 33, 3 Ngài đời 34. Theo văn bia chùa Quốc Ân khắc lại văn bia dựng trước tháp Tổ tại làng Dương Xuân thượng, thành phố Huế thì Tổ sư Nguyên Thiều Siêu Bạch sinh năm Mậu Tý (1648), tịch năm Mậu Thân (1728), chẳng lẽ sư điệt của Tổ là ngài Minh Hải Pháp Bảo lại lớn hơn Tổ tới 38 tuổi, lớn hơn vị danh Tăng thuộc tông Tào Động được Tổ mời sang giúp chúa Nguyễn là Hòa thượng Thạch Liêm (1633-1729) tới 23 tuổi! Cho nên, dẫu 3 Ngài trên không là đệ tử Tổ sư Nguyên Thiều Siêu Bạch thì đồng đời pháp với đệ tử của Tổ, thế tất niên kỷ tương đồng với đệ tử của Tổ. Hiện tại, chùa Thập Tháp ở Bình Định còn thờ 3 long vị của 3 vị đệ tử Tổ là: Minh Giác Kỳ Phương (1682-1744): Trụ trì chùa Thập Tháp; Minh Lượng Nguyệt Ân (1686-1769): Khai sơn chùa Phổ Bảo; Minh Dung Pháp Thông (1691-1749): Khai sơn chùa Hoàng Long và thiền sư Minh Vật Nhất Tri (…?-1786): Khai sơn chùa Kim Cang, Đồng Nai (có bài vị thờ tại chùa này).
Vậy niên đại sinh tịch của Ngài Minh Hải Pháp Bảo được tôi đoán định là: Sinh Canh Tuất (1670), tịch Bính Dần (1746).
Trên cơ sở đó, niên đại sinh tịch của Thiền sư Thiệt Đăng Bảo Quang đều phải lùi lại 60 năm, tức sinh Kỷ Mão (1699), tịch Nhâm Dần (1782), tức sống cùng thời với huynh đệ đồng sư là Thiền sư Thiệt Dinh Chánh Hiển (1712-1796): khai tổ chùa Phước Lâm, Quảng Nam và với huynh đệ đồng đời pháp với Thiền sư Thiệt Kiến Liễu Triệt (1702-1764): trụ trì chùa Thập Tháp, Bình Định (đời 35).
Do đó, năm khai sơn chùa Giang Long cũng phải lùi lại. Theo tôi, sự cố ấy có thể diễn ra vào năm Giáp Tý (1744), năm có câu liễn cổ còn sót lại đã nói trên kia.
Theo tác giả bản lược sử thì thoạt kỳ thủy, chùa Giang Long tọa lạc tại sườn núi Trường Úc, cách chùa Sơn Long hiện nay khoảng 300m về hướng Tây Bắc, gần mộ cũ của Tổ được tôn là Khai tổ Thiệt Đăng, ban đầu chùa bằng gỗ lợp tranh.
Đến đời pháp tôn của Khai tổ Thiệt Đăng là Thiền sư Chương Nghĩa Thanh Tuyền, đời pháp 38, thì dời chùa xuống tại vị trí chùa Sơn Long hiện nay, cất theo kiểu chữ Môn [] đều bằng nhà lá mái, đổi tên thành Sơn Long tự.

Toàn cảnh chùa Sơn Long hiện nay.

Đến đời Thiền sư Ấn Hải Viên Thông, đời pháp 39, làm trụ trì thì tái thiết theo kiểu Tiền đường Hậu tẩm Đông Tây đối diện thành hình chữ Khẩu [口] sườn gỗ mái tranh, mái dầm sìa bỏ đất (nhà lá mái).
Đến đời Thượng tọa Thị Sa Bình Chánh, đời pháp 42, làm trụ trì vào năm 1958 triệt bỏ toàn bộ, thay tranh làm ngói, bình diện kiến trúc theo hình chữ [口], y theo nền cũ và giữ đúng tọa hướng ban đầu. Sau cuộc chiến tranh vừa qua, chùa có sửa sang tu bổ chút đỉnh nên diện mạo trông dễ coi, chưa đến nỗi xuống cấp.

Chánh điện chùa Sơn Long hiện nay.

TRỤ TRÌ CHÙA SƠN LONG TRẢI CÁC ĐỜI
Tư liệu dùng viết phần này chỉ có các long vị, bài vị chư Tổ thờ tại nhà Tổ cùng bản “Lược Sử Chùa Sơn Long” nói trên mà bản lược sử cũng lấy tư liệu ở các long vị, bài vị, tức chỉ có duy nhất một nguồn tư liệu, không có cái thứ 2 để đối chiếu, so sánh. Cho nên, niên đại sinh tịch của chư Tổ chỉ biết đoán định có đối chiếu với so sánh với niên đại sinh tịch các vị Thiền sư đồng đời pháp ở trong và ngoài tỉnh, hy vọng không quá xa sự thật. Do nhiều mặt hạn chế khó nỗi khắc phục nên phần này chắc chắn không tránh khỏi chủ quan sai lầm và thiếu sót, dám mong chư Tôn túc trong kệ phái Minh Hải Pháp Bảo hiện nay cùng các bậc thiện tri thức biết được lý lịch cùng hành trạng chư Tổ chùa Sơn Long chỉ bảo cho thì thật là vinh hạnh! Những gì viết sau đây chỉ là sơ bộ phác thảo mà thôi.
Chùa Sơn Long ngày xưa
1. Thiền sư được tôn xưng là Tổ Khai sáng:
Húy Thiệt Đăng, hiệu Bảo Quang, đời pháp 35 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo. Đệ tử Tổ Minh Hải Pháp Bảo (1670-1746) khai sơn chùa Chúc Thánh, Quảng Nam. Thiền sư Thiệt Đăng thế danh là gì, quê quán ở đâu, vào cửa Chúc Thánh vào năm nào v.v… không có tư liệu nào nói tới. Chỉ biết Ngài sinh năm Kỷ Mão (1699) không rõ tháng, ngày giờ, tịch giờ Dậu ngày 21 tháng Giêng năm Nhâm Dần (1782), thọ 83 tuổi dương, 84 tuổi âm, có thể khai sơn chùa Giang Long vào năm Giáp Tý (1744), mộ táng Tây Bắc chùa Sơn Long, vừa được cải táng tại khu bảo tháp cách đây vài năm.
Lòng vị ghi:
嗣 臨 濟 三 十 五 世 江 隆 堂 上  寶  光 諱 實 燈 老 和 尚 覺 靈 猊 座
原 生 己 卯 年 昧 月 日 時 來
壬 寅 年 孟 春 二 十 一 日 酉 時 去
Phiên âm: 
Tự Lâm Tế Tam Thập Ngũ Thế Giang Long Đường Thượng thượng BẢO hạ QUANG Húy THIỆT ĐĂNG Hòa Thượng Giác Linh Nghê Tòa.
Nguyên sinh Kỷ Mão niên muội nguyệt nhật thời lai.
Nhâm Dần niên Mạnh xuân nhị thập nhất nhật Dậu thời khứ.
Dịch nghĩa: 
Tòa sư tử, nơi ngự của Giác linh Hòa thượng pháp danh Thiệt Đăng, pháp hiệu Bảo Quang, đời pháp 35, bề trên chùa Giang Long, nối tiếp tông Lâm Tế.
Nguyên sinh năm Kỷ Mão (1699), chưa rõ tháng ngày giờ.
Tịch năm Nhâm Dần (1782) tháng Giêng ngày 21 giờ Dậu.
Ngài tịch, chẳng hiểu sao không truyền cho đệ tử mà người thừa kế lại thuộc hệ phái khác. Sau Ngài, phái Minh Hải Pháp Bảo bị gián đoạn 2 đời pháp 36, 37.
Tháp tổ Thiệt Đăng Bảo Quang.
2. Trụ trì: Thiền sư Tịch Lý, tự Điều Thuận, hiệu Thanh Thiện, đời pháp 37 kệ phái Trí Bản Đột Không. Có lẽ kế thừa ngôi trụ trì Giang Long tự sau khi Tổ Thiệt Đăng quy tịch. Tháp Ngài xây khiêm tốn cạnh Quốc lộ 1 cũ (tức con lộ chạy ngang trước chùa hiện nay) về hướng Đông Nam chùa Sơn Long. Kỵ Ngài nhằm ngày 18 tháng 8. Long vị không còn.
3. Thiền sư Khai sơn chùa Sơn Long:
Ngài pháp danh Chương Nghĩa, pháp tự Tuyên Đức, pháp hiệu Thanh Nguyên, đời pháp 38 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo.
Theo tác giả bản “Lược sử chùa Sơn Long” thì Ngài là đệ tử Thiền sư Toàn Ý Phổ Huệ (1799-1872), khai Tổ chùa Phổ Bảo cùng huyện. Cũng theo tác giả thì ngài Chương Nghĩa sinh năm Tân Hợi được tác giả quy ra dương lịch là năm 1791. Như thế, tức là ngài Chương Nghĩa lớn hơn tổ Toàn Ý 8 tuổi, lúc Tổ khai lập chùa Phổ Bảo năm Bính Thân (1836) thì ngài Chương Nghĩa đã được 45 tuổi. Nếu Ngài có nhập môn Phổ Bảo thì sớm lắm cũng vào năm nầy (1836) thế tất Ngài đã có vợ con rồi mới đi tu! Không chỉ riêng Ngài mà còn có các ngài Chương Lý, Chương Thiện, Chương Trí, Chương Hải v.v…đều được Thượng tọa Đỗng Quán, tác giả các bản lược sử các chùa Phổ Bảo, Hưng Khánh, Sơn Long xếp làm đệ tử Thiền sư Toàn Ý-khai sơn chùa Phổ Bảo. Khi đối chiếu năm sinh từng Ngài với năm có chùa Phổ Bảo thì các ngài đều rơi vào trường hợp vừa nói! Tôi không cho các Ngài trên đều bán thế đầu Thiền mà đều là đồng ấu xuất gia, tức đều không phải đệ tử Tổ Toàn Ý mặc dù cùng kệ phái với Tổ và sau Tổ một đời pháp. Trong các ngài trên, tôi tìm được Sư phụ ngài Chương Thiện và Chương Trí, số còn lại đang tiếp tục tìm (Xin xem bài Chùa Diêu Phong, tập Thượng, quyển Hạ sẽ rõ).
Chưa rõ đệ tử ai. Theo long vị thì Ngài sinh năm Tân Hợi (1791) có xuất gia từ đồng ấu thì cũng 20 tuổi mới thọ Đại giới, ngoài 30 tuổi mới được phó pháp làm Đại sư đứng khai sơn hoặc trụ trì chùa. Thế tất Ngài thiên di chùa Giang Long trên lưng chừng núi Trường Úc xuống chân núi nầy, xây dựng xong rồi khai sơn cải hiệu thành Sơn Long Tự, trong khoảng thập niên 1821-1831, nhằm Minh Mệnh 2 đến Minh Mệnh 12. Ngài là Tổ khai sơn chùa Sơn Long hiện nay.
Tháp Ngài nằm trong khu Bảo tháp. Long vị thờ tại nhà Tổ ghi:嗣 祖 三 十 八 世 諱 彰 義 號 清 源 大 師 覺 靈 座 位
辛 亥 年 九 月 十 九 日 來
甲 子 年 三 月 二 十 七 日 去
Phiên âm: 
Tự Tổ Tam Thập Bát Thế Huý CHƯƠNG NGHĨA Hiệu THANH NGUYÊN Đại Sư Giác Linh Tọa Vị
Tân Hợi niên cửu nguyệt thập cửu nhật lai
Giáp Tý niên tam nguyệt nhị thập thất nhật khứ
Dịch nghĩa: 
Long vị, nơi ngự của giác linh Đại sư pháp danh Chương Nghĩa, pháp hiệu Thanh Nguyên, đời pháp 38 nối theo chư Tổ.
Sinh năm Tân Hợi (1791) tháng 9 ngày 19.
Tịch năm Giáp Tý (1864) tháng 3 ngày 27.
Thọ 73 tuổi dương tức 74 tuổi âm. Còn làm viện chủ đến hai lớp trụ trì sau Ngài.
4. Trụ trì: Thiền sư Ấn Hải, hiệu Viên Thông, đời pháp 39 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo. Đệ tử Hòa thượng Chương Bảo Liễu Tạng chùa Khánh Lâm. Căn cứ theo long vị thì biết được rằng trước khi làm trụ trì Sơn Long thì Ngài từng làm trụ trì chùa Phước Điền cùng huyện, tịch tại chùa Sơn Long. Ngài sinh năm Đinh Hợi (1767), tịch năm Ất Mùi (1835), thế thọ 68 tuổi dương tức 69 tuổi âm. Theo tác giả bản lược sử thì: “Ngài là vị Tăng tướng đường đường, uyên thâm Nho, Thích, Lão; là bậc lương đống đạo pháp đương thời. Ngài được Sắc tứ Khâm ban Đao điệp dưới triều Tự Đức. Ngài cũng đã từng được cung thỉnh về xử lý Tổ đình Thập Tháp một thời gian dài. Tuổi già Ngài về tịnh dưỡng tại Tổ đình Sơn Long”.
Tháp Ngài trong khu Bảo tháp.
Long vị hiện còn, được thờ tại nhà Tổ. Lòng vị ghi:
嗣 臨 濟 正 宗 三 十 九 世 福 田 堂 上 敕 賜 十 塔 寺 住 持 諱 印 海  圓  通 羯 磨 和 尚 覺 靈 蓮 座
丁 亥 年 六 月 二 十 日 辰 刻 來
乙 未 年 二 月 初 七 日 子 刻 去
Phiên âm: 
Tự Lâm Tế Chánh Tông Tam Thập Cửu Thế Phước Điền Đường Thượng Sắc Tứ Thập Tháp Tự Trụ Trì Húy ẤN HẢI Thượng VIÊN hạ THÔNG Yết Ma Hoà Thượng Giác Linh Liên Tòa.
Đinh Hợi niên lục nguyệt nhị thập nhật Thìn khắc lai.
Ất Mùi niên nhị nguyệt sơ thất nhật Tý khắc khứ.
Dịch nghĩa: 
Tòa sen của Yết-ma Hòa thượng Pháp danh Ấn Hải, pháp hiệu Viên Thông, đời pháp thứ 39 tông chánh Lâm Tế, bề trên chùa Phước Điền, từng làm trụ trì chùa Thập Tháp được Sắc tứ.
Sinh năm Đinh Hợi (1767) tháng 6 ngày 20 giờ Thìn.
Tịch năm Ất Hợi (1835) tháng 2 ngày 7 giờ Tý.
5. Trụ trì: Thiền sư Ấn Hoàn, tự Tuyên Khánh, hiệu Thiện Hòa, đời pháp 39 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo, đệ tử Thiền sư Toàn Tín chùa Khánh Lâm, cầu pháp Thiền sư Chương Nghĩa chùa Sơn Long, được vị thầy phú pháp là Chương Nghĩa Đại sư cử làm trụ trì chùa Sơn Long sau khi Thiền sư Ấn Hải Viên Thông quy tịch. Bản lược sử viết: “Ngài sinh năm Tân Tỵ (1811), Tây khứ giờ Tỵ ngày Rằm tháng Chạp năm Kỷ Sửu (1889) trên giàn hỏa do Ngài tự tạo sau khi mãn khóa Kiết Đông, thọ 79 tuổi”. Tháp Ngài ở trong khu Bảo tháp. Long vị thờ tại nhà Tổ, lòng vị ghi niên đại tịch khác bản lược sử:
臨 濟 正 宗 三 十 九 世 山 龍 堂 上 姓 裴 諱 印 完 號 善 和 阿 闍 梨 大 師 覺 靈 之 座 位
辛 巳 年 七 月 二 十 八 日 酉 辰 來
己 巳 年 十 二 月 十 五 日 卯 辰 去
Phiên âm: 
Lâm Tế Chánh Tông Tam Thập Cửu Thế Sơn Long Đường Thượng Tánh BÙI Húy ẤN HOÀN Hiệu THIỆN HÒA A Xà Lê Đại Sư Giác Linh Chi Tọa Vị.
Tân Tỵ niên thất nguyệt nhị thập bát nhật Dậu thời lai.
Kỷ Tỵ niên thập nhị nguyệt thập ngũ nhật Mão thời khứ.
Dịch nghĩa: 
Nơi ngự của Giác linh A-xà-lê Đại sư Pháp danh Ấn Hoàn, pháp hiệu Thiện Hòa, họ Bùi, đời pháp 39 tông chánh Lâm Tế, làm trụ trì chùa Sơn Long.
Sinh năm Tân Tỵ (1811), tháng 7 ngày 28 giờ Dậu.
Tịch năm Kỷ Tỵ (1869), tháng Chạp ngày Rằm giờ Mão.
Theo đây thì Ngài thọ 58 tuổi dương tức 59 tuổi âm.
6. Trụ trì: Thiền sư Chơn Định, tự Đạo Đoan, hiệu Chí Hạnh, đời pháp 40, đệ tử Hòa thượng Ấn Hải Viên Thông, kế vị sư thúc Ấn Hoàn Thiện Hòa làm trụ trì Sơn Long tự sau khi sư thúc quy tịch. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1802) tịch năm Canh Dần (1890), thọ 88 tuổi dương tức 89 tuổi âm. Tháp ở hướng Đông Bắc ngoại vi chùa Sơn Long.
Bài vị hiện còn, thờ tại nhà Tổ, lòng vị ghi:
嗣 臨 濟 正 宗 四 十 世 豐 光 堂 上 住 持 張 諱  真  定 號 志 幸 大 師 覺 靈
壬 戌 年 六 月 昧 日 辰 來
庚 寅 年 六 月 初 三 日 辰 刻 去
Phiên âm: 
Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Thế Phong Quang Đường Thượng Trụ Trì Trương Húy thượng CHƠN hạ ĐỊNH Hiệu CHÍ HẠNH Đại Sư Giác Linh.
Nhâm Tuất niên lục nguyệt muội nhật thời lai
Canh Dần niên lục nguyệt sơ tam nhật Thìn khắc khứ.
Nơi tọa của Giác linh Đại sư Pháp danh Chơn Định hiệu Đạo Hạnh, họ Trương, đời thứ 40, nối tiếp tông chánh Lâm Tế, bề trên chùa Phong Quang, làm trụ trì (chùa Sơn Long).
Sinh năm Nhâm Tuất (1802), tháng 6 chưa rõ ngày giờ.
Tịch năm Canh Dần (1890), tháng 6 ngày 3 giờ Thìn.
7. Trụ trì: Thiền sư Chơn Tâm, tự Đạo Hạnh, hiệu Phước Quang, đời pháp 40, đệ tử Hòa thượng Ấn Hải Viên Thông, kế vị sư huynh Chơn Định Chí Hạnh làm trụ trì Sơn Long tự sau khi sư huynh quy tịch. Ngài sinh năm Kỷ Mùi (1859), tịch năm Bính Tuất (1946) thế thọ 87 tuổi dương tức 88 tuổi âm. Tháp Ngài trong khu bảo tháp. Bài vị thờ tại nhà Tổ, lòng vị ghi:
嗣 臨 濟 正 宗 四 十 世 山 龍 寺 諱  真  心 號 福 光 大 老 和 尚 覺 靈 座
己 未 年 昧 月 日 辰 來
丙 戌 年 十 二 月 十 八 日 午 刻 去
Phiên âm: 
Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Thế Sơn Long Tự Húy thượng CHƠN hạ TÂM Hiệu PHƯỚC QUANG Đại Lão Hòa Thượng Giác Linh Tòa.
Kỷ Mùi niên muội nguyệt nhật thời lai.
Bính Tuất niên thập nhị nguyệt thập bát nhật Ngọ khắc khứ.
Dịch nghĩa: 
Nơi ngự của Giác linh Đại lão Hòa thượng Pháp danh Chơn Tâm, Pháp hiệu Phước Quang, đời pháp 40 nối tiếp tông chánh Lâm Tế làm trụ trì chùa Sơn Long.
Sinh năm Kỷ Mùi (1859) chưa rõ tháng ngày giờ.
Mất năm Bính Tuất (1946), tháng Chạp, ngày 18 giờ Ngọ.
8. Trụ trì: Thiền sư Như Tại hiệu Hoằng Liễu, đời pháp 41, đệ tử Thiền sư Chơn Tâm Phước Quang, được Sư phụ chỉ định làm trụ trì Sơn Long tự năm 1916. Ngài sinh năm Quý Mùi (1883), tịch năm Tân Mùi (1931), thế thọ 48 tuổi dương tức 49 tuổi âm. Tháp Ngài trong khu Bảo tháp góc Tây Bắc. Long vị thờ tại nhà Tổ, lòng vị ghi:
嗣 臨 濟 正 宗 四 十 一 世 是 祿 菴 副 事 諱 如 在 號 弘 了 大 師 覺 靈
癸 未 年 昧 月 日 辰 來
辛 未 年 二 月 十 一 日 去
Phiên âm: 
Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhất Thế Thị Lộc Am Phó Sự Húy NHƯ TẠI Hiệu HOẰNG LIỄU Đại Sư Giác Linh.
Quý Mùi niên muội nguyệt nhật thời lai.
Tân Mùi niên nhị nguyệt thập nhất nhật khứ.
Dịch nghĩa: 
(Nơi ngự của) Giác linh Đại sư Pháp danh Như Tại, Pháp hiệu Hoằng Liễu, đời pháp thứ 41, nối tiếp tông chánh Lâm Tế, làm Phó sự am Thị Lộc.
Sinh năm Quý Mùi (1883), chưa rõ tháng ngày giờ.
Tịch năm Tân Mùi (1931), tháng 2 ngày 11.
9. Trụ trì: Thiền sư Như Chất hiệu Hoằng Ngữ, đời pháp 41, đệ tử Thiền sư Chơn Tâm Phước Quang, kế vị sư huynh Như Tại Hoằng Liễu làm trụ trì Sơn Long tự sau khi sư huynh quy tịch. Ngài sinh năm Kỷ Mão (1879), tịch năm Ất Dậu (1945), thế thọ 66 tuổi dương tức 67 tuổi âm. Tháp trong khu bảo tháp. Bài vị thờ tại nhà Tổ, lòng vị ghi:
臨 濟 正 宗 四 十 一 世 山 龍 寺 和 尚  如  質 號 弘 語 覺 靈 之 位
己 卯 年 昧 月 日 辰 來
乙 酉 年 六 月 初 七 日 去
Phiên âm: 
Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhất Thế Sơn Long Tự Hòa Thượng thượng NHƯ hạ CHẤT Hiệu HOẰNG NGỮ Giác Linh Chi Vị.
Kỷ Mão niên muội nguyệt nhật thời lai.
Ất Dậu niên lục nguyệt sơ thất nhật khứ.
Dịch Nghĩa: 
Long vị của Giác linh Hòa thượng Pháp danh Như Chất, Pháp hiệu Hoằng Ngữ, đời pháp 41, tông chánh Lâm Tế, làm trụ trì chùa Sơn Long.
Sinh năm Kỷ Mão (1879) chưa rõ tháng ngày giờ.
Tịch năm Ất Dậu (1945) tháng 6 ngày 7.
10. Trụ trì: Thiền sư Thị Đạo, tự Diệu Tâm, hiệu Bình Khánh, đời pháp 42, đệ tử Thiền sư Như Chất Hoằng Ngữ, kế vị thầy làm trụ trì Sơn Long tự sau khi thầy quy tịch. Thiền sư tên Hồ Cận, sinh năm Kỷ Dậu (1909) tại thôn Bình An, xã Phước Thành. Đồng ấu xuất gia. Theo Tác giả bản lược sử thì : “Năm Quý Tỵ (1953), thầy Bình Khánh lâm trọng bệnh, tự xét mình không thể kham nổi công việc chùa nên ngày 10.2.1954 (18 tháng Giêng năm Giáp Ngọ) thầy đã giao Tổ đình Sơn Long lại cho Môn phái đề nghị trạch cử vị trụ trì khác. Khi ấy Môn phái được triệu tập cuộc họp dưới quyền chủ tọa của Hòa thượng Hoằng Thông và Thượng tọa Giác Đạo làm thư ký. Trong cuộc họp nầy, Môn phái đã tuyển cử Thượng tọa Bình Chánh làm trụ trì, Thượng tọa Giác Hoa làm Giám tự”. Năm Bính Thân (1956), Thượng tọa Thị Đạo Bình Khánh được Môn phái suy cử làm trụ trì chùa Gia Khánh ở xã Phước Lộc.
11. Trụ trì: Thiền sư Thị Sa, tự Từ Dung, hiệu Bình Chánh, đời pháp 42, đệ tử Thiền sư Như Chất Hoằng Ngữ, pháp đệ Thiền sư Thị Đạo Bình Khánh kế thừa trụ trì chùa Sơn Long vào năm 1954 sau khi sư huynh từ nhiệm. Thiền sư Bình Chánh thế danh Nguyễn Văn Hạnh, sinh năm Bính Thìn (1916). Ngài thọ Đại giới ngày 15 tháng 6 năm Bính Tý (1936) tại giới đàn chùa Sắc tứ Phước Sơn, Bồng Sơn do Hòa thượng Tường Quang làm Đường đầu, sau đó Ngài từng vào tham học tại Phật học viện Hải Đức, Nha Trang khóa đầu tiên. Cùng học có Hòa thượng Kế Châu, Ni trưởng Tâm Hoa v.v…
Ngài là người có công rất lớn trong việc trùng tu Tổ đình Sơn Long. Điều này được Thượng tọa Đỗng Quán viết trong bản lược sử như sau: ” Thượng tọa Bình Chánh làm trụ trì đã đem lại sinh khí cho Tổ đình Sơn Long. Thượng tọa tu học uyên bác, Hán Việt tinh thông, trác hạnh dị thường. Chính Ngài đã tái thiết tự viện khang trang như ngày nay. Tuy vậy, Thượng tọa rất hiếm đệ tử, duy chỉ có Đồng Đức, thế danh Võ Ngọc Công là người được Thượng tọa thu nhận và dìu dắt”. 
Thượng tọa viên tịch giờ Mùi ngày mồng 4 tháng 3 năm Ất Sửu (1985), thế thọ 69 tuổi dương, tức 70 tuổi âm. Tháp trong khu bảo tháp, long vị thờ tại Tổ đường, lòng vị ghi:
臨 濟 四 十 二 世 山 龍 堂 上 住 持 諱 是 沙 號 慈 容 和 尚 覺 靈 座 位
丙 辰 年 六 月 初 九 日 丑 刻 來
乙 丑 年 三 月 初 四 日 未 刻 去
Phiên âm: 
Lâm Tế Tứ Thập Nhị Thế Sơn Long Đường Thượng Trụ Trì Húy THỊ SA Hiệu TỪ DUNG Hòa Thượng Giác Linh Tọa Vị.
Bính Thìn niên lục nguyệt sơ cửu nhật Sửu khắc lai.
Ất Sửu niên tam nguyệt sơ tứ nhật Mùi khắc khứ.
Dịch nghĩa: 
Long vị nơi ngự của Giác linh Hòa thượng Pháp danh Thị Sa, Pháp hiệu Từ Dung, đời pháp 42 tông Lâm Tế, trụ trì chùa Sơn Long.
Sinh năm Bính Thìn (1916), tháng 6 ngày 9 giờ Sửu.
Tịch năm Ất Sửu (1985), tháng 3 ngày 4 giờ Mùi.
12. Đương kim trụ trì: Thiền sư Đồng Đức, tự Thông Luận, hiệu Bích Thiên, đời pháp 43, đệ tử duy nhất của Thượng tọa Bình Chánh, kế vị Thầy trụ trì Sơn Long tự sau khi Thầy quy tịch(1985).
Thế danh Võ Ngọc Công, sinh năm Mậu Tuất (1958) tại thôn Hưng Trị, xã Cát Thắng, huyện Phù Cát. Tám tuổi xuất gia tại chùa Liên Tôn. Mười hai tuổi được bổn sư là Thượng tọa Bình Chánh, trụ trì chùa Sơn Long làm lễ thế độ tại chùa nầy.
Năm Kỷ Tỵ (1989), thọ Đại giới tại chùa Long Khánh, Quy Nhơn do Hòa thượng Thích Giải An làm Đường đầu. Lúc này, Hòa thượng Bình Chánh đã viên tịch nên Ngài cầu pháp với Hòa thượng Bảo An, trưởng môn phái với pháp tự Thông Luận. Về thế học, Thượng tọa đã xong chương trình Trung cấp, về Phật học thì được sự giáo dưỡng của bổn sư trong nhiều năm cũng như tham gia các khóa Giảng sư tại Ấn Quang và Quy Nhơn.
Từ ngày đảm đương trách nhiệm trụ trì Sơn Long tự đến nay, Thượng tọa đã không ngừng củng cố tự viện, mở rộng cửa tiếp tăng độ chúng, xây dựng tượng đài và chùa Một Cột, cải táng và xây tháp khai tổ, xây tháp bổn sư v.v… năng nổ hoạt động Phật sự không biết mệt mỏi khiến Tổ đình Sơn Long ngày càng khởi sắc. Công đức ấy đáng tán dương.
Để giúp độc giả tiện theo dõi trụ trì chùa Sơn Long trải các đời, xin mời xem biểu đồ sau đây:
ệ Phái
Số
TT
Thời Gian
Chức Danh
Đời Pháp
Đạo Hiệu
Minh Hải Pháp Bảo
Minh Thiệt Pháp Toàn Chương
34  35  36  37  38
01.
1744-1782
Tổ khai
sáng
35
Thiệt Đăng Bảo Quang
Trí Bản Đột Không
Tịch Chiếu Phổ Thông
37   38   39   40
02.
1782-….?
Trụ trì
37
Tịch Lý Thanh Thiện
Minh Hải Pháp Bảo
Minh Thiệt Pháp Toàn Chương
34  35  36  37  38
Ấn Chơn Như Thị Đồng
39  40  41   42  43
03.04.
05.
06.
07.08.
09.
10.
11.
12

1821-1831
1831-1864
. . . .?-1835
1835-1869
1869-1890
1890-1916
1916-1946
1916-1931
1931-1945
1945-1954
1954-1985
1985 đến nay
Khai sơn
Viện chủ
Trụ trì
Trụ trì
Trụ trì
Trụ trì
Viện chủ
Trụ trì
Trụ trì
Trụ trì
Trụ trì
Trụ trì
3839
39
40
4041
41
42
42
43

Chương Nghĩa Thanh Nguyên
Ấn Hải Viên Thông
Ấn Hoàn Thiện Hòa
Chơn Định Chí Hạnh
Chơn Tâm Phước QuangNhư Tại Hoằng Liễu
Như Chất Hoằng Ngữ
Thị Đạo Bình Khánh
Thị Sa Bình Chánh
Đồng Đức Bích Thiên
Chùa Giang Long từ khai sơn đến nay trải qua 256 năm (1744-1999), nằm giữa vùng từng xảy ra các cuộc giao tranh giữa quân đội Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn Gia Miêu (năm 1799), quân đội Thực dân Pháp với quân Cần Vương của cụ Hường Đào Doãn Địch (1885). Trải bao dâu biển của cuộc đời, “Giang Long tự” trước rồi “Sơn Long tự” sau, danh tự và diện mạo tuy có thay đổi nhưng ngôi chùa cổ vẫn đứng tại núi Hàm Long làm nhân chứng hùng hồn cho lịch sử, làm nơi quy ngưỡng cho đông đảo tăng tín đồ một vùng, làm nơi hành hương vãn cảnh của du khách mười phương và sau cùng là làm nơi cho mọi người hữu tâm, tăng có tục có đồng cầu nguyện cho âm siêu dương thái. Không nói hẳn ai cũng biết chùa còn phải củng cố và phát triển hơn nữa để đáp ứng các yêu cầu chính đáng nói trên. Tin tưởng rằng với sự lèo lái của đương kim trụ trì, tuy tuổi đời còn trẻ, tuổi đạo chưa cao nhưng đạo tâm kiên cố, học hạnh khả quan, chí nguyện có thừa thì có thể làm tốt những điều vừa nói. Với niềm tin tưởng ấy, tôi xin mạo muội có mấy vần để khép lại bài viết về chùa Sơn Long:
Hàm Long Sơn Hoài Cổ
Hòn Úc xưa kia bãi chiến trường
Tây Sơn sự nghiệp khí còn vương
Cây rừng đã thấm bao nhiêu máu?
Đá núi từng vùi mấy lớp xương?
Tuy bại sử xanh ngàn thuở nhắc,
Dù vong lòng đỏ vạn đời thương.
Oan hồn ví hẳn còn đâu đó,
Siêu độ nhờ chùa một nén hương.
Lộc Xuyên
Chú thích:
Chùa Sơn Long đang được Thượng tọa Đồng Đức đại trùng tu toàn bộ theo kiến trúc một tầng và một trệt. Tầng lầu làm Chánh điện và tầng trệt làm Giảng đường.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here