CHÙA TĂNG QUANG – BÌNH ĐỊNH

1
37
  • Tên gọi : CHÙA TĂNG QUANG ,Tăng Quang tự.
  • Tọa lạc: số 160/1 đường Lê Hồng Phong, phường Lê Hồng Phong, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
  • Năm xây dựng: 1912.
  • Năm xây dựng :  bà Ngọc Ý xây dựng cho con trai là Trần Trấp, đạo hiệu là Xương Như tu.
  • Phong tặng : Sắc tứ Tam Giáo Tự.
Chùa nguyên thủy có tên là Tăng Quang tự nhưng vua Bảo Đại ban biển tứ danh là Tam Giáo tự. Nay biển đắp trên cổng chùa đề là Tam Giáo tự nhưng trên danh bạ tự viện và trong thư tịch đều ghi là chùa Tăng Quang.
Chùa tọa lạc tại 160/1 đường Lê Hồng Phong, phường Lê Lợi, thành phố Quy Nhơn.
KIẾN TRÍ TỔNG QUAN
Trước chùa có cổng gạch ba cửa, trên mày cửa giữa để ba chữ:    Tam Giáo Tự có nghĩa là chùa theo 3 đạo Nho Phật Lão.
Bên trong ngõ, sau vuông sân hẹp là tòa nhà lầu chạy ngang cùng tọa hướng với cổng ngõ. Tòa nhà này dài 8m, rộng 6m, cao 8m, diện tích mặt bằng 48m², diện tích tầng trên 48m², mái điệp ốc, lợp ngói, trên nóc có tượng lưỡng long chầu chữ A.
Toàn cảnh chùa Tăng Quang (cũ)
Bên trong lầu, gian giữa tầng trên thờ Phật.
Tầng trệt, gian giữa đặt khám thờ, trong khám bệ trên có tượng Ngọc Hoàng Thượng đế ngồi giữa, hai tượng Nam Tào Bắc Đẩu đứng hầu hai bên, bệ dưới có tượng Quan Thánh ngồi giữa, hai tượng Quan Châu nhị tướng đứng hầu hai bên. Sáu tượng này có lẽ bằng gỗ, khá xưa, đã có từ lúc lập chùa. Trên bệ gạch trước khám có tượng Phật Thích Ca ngồi giữa, hai tượng Tiêu Diện và Hộ Pháp đứng hai bên. Ba tượng này đều bằng xi măng. Chùa Tam Giáo mà chỉ thấy thờ có Giáo tổ đạo Phật còn hai vị Giáo tổ nữa đâu? Hoặc giả tượng đứng hai bên tượng Ngọc Hoàng không phải Nam Tào Bắc Đẩu mà là Lão tử Khổng tử đó chăng? Tôi đem điều này hỏi vị trụ trì hiện nay thì được trả lời là “chưa rõ”.
Bên Tả vu có bệ thờ Cô hồn. Giữa bệ có tượng Thổ địa Linh quan.
Bên Hữu vu có bệ thờ Bà. Giữa bệ trên ngai bằng gỗ sơn son thếp vàng, có 5 tượng gỗ khá xưa, ngồi giữa là tượng Cửu Thiên Huyền nữ, Kim Đồng Ngọc nữ và hai bộ tướng đứng 4 góc. Bên trong, trên mày cửa giữa, đối diện khám thờ có tấm biển gỗ dài 1m50, cao 1m, sơn son thếp vàng, trên đường viền chung quanh chạm tứ linh, giữa chạm hiệu chùa:
Bảng Sắc tứ Tam Giáo Tự năm Bảo Đại thứ 12.
Chánh điện tạm chùa Tăng Quang.
CHÙA TĂNG QUANG TỪ TRIỆU KIẾN ĐẾN NAY

Trần Xương Như thế danh Trần Trấp, người huyện Tuy Phước, sinh năm Nhâm Dần (1902), 5 tuổi đi tu làm đệ tử Lão Trình được thầy đặt Đạo hiệu là Xương Như. Mẹ ông họ Nguyễn là tín nữ với Đạo danh Ngọc Ý.

Năm lên 9 tuổi, bà mẹ xuất tài lực lập chùa Tăng Quang cho ông ở tu, bấy giờ nhằm năm Duy Tân thứ 6, Nhâm Tý (1912). Chùa ban đầu tuy bằng ngói nhưng quy mô khiêm tốn hơn ngày nay. Đến năm Bảo Đại thứ 12, Đinh Sửu (1937) chùa được ban biển Sắc tứ Tam Giáo Tự, bấy giờ ông được 35 tuổi. Các chùa trong môn phái Khánh hạ cặp liễn cẩn, nay không còn nhưng còn có người thuộc. Nguyên văn:
我 國 長 存 三 教 寺
慈 航 普 渡 十 方 民
Phiên âm:
Ngã quốc trường tồn Tam giáo tự
Từ hàng phổ độ thập phương dân.
Dịch nghĩa:
Nước Việt luôn còn Tam giáo tự,
Bè từ độ khắp thập phương dân.
Sau đó, ông được Hòa thượng Trừng Chấn Chánh Nhơn, trụ trì chùa Long Khánh, Quy Nhơn điểm hóa mà đầu Thiền vị danh tăng này vào năm Kỷ Mão (1939) được ban Pháp danh Tâm Chơn, Pháp tự là Thiện Đạo, Pháp hiệu là Huệ Khai được bổn sư phó pháp làm Đại sư. Danh hiệu chùa vẫn là Tăng Quang tự. Bên trong, cách thờ phượng được giữ y nhưng hành trì theo quy củ Thiền môn.
Chùa được Đại trùng tu vào những năm 60 mà quy mô còn tới ngày nay.
Sư tịch tại chùa vào ngày 14 tháng 6 năm Ất Sửu (1985). Mộ ở trước chùa Bích Nam, Phước Hưng. Thế thọ 84 tuổi dương, tức 85 tuổi âm.

Đệ tử của Sư có Thượng tọa Nguyên Huệ, Thượng tọa Nguyên Khiết bấy giờ đều đã có trụ xứ. Cho nên trước khi tịch mấy năm Sư đã đích thân đến chùa Tâm Ấn xin Sư bà Tâm Hoa cho một đệ tử là Ni sư Hạnh Minh kế vị Sư làm trụ trì chùa Tăng Quang sau khi Sư quy tịch. Ni sư Hạnh Minh đã vâng lệnh Bổn sư, được sự tán đồng của tăng tín đồ trong phái Bích Nam (trong đó có tín đồ chùa Tăng Quang), đáp ứng nguyện vọng của vị Sư quá cố mà làm trụ trì Tăng Quang tự từ năm 1985 đến nay.
Ni sư thế danh Ngô Thị Em, Pháp danh Nguyên Trí, Pháp tự Hạnh Minh, Pháp hiệu Pháp Chiếu, sinh năm 1943 tại thôn Trung Ái, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn. Con ông Ngô Can và bà Hồ Thị Hịch đều là Phật tử thuần thành. Năm 1955 xuất gia tại chùa Tâm Ấn do Ni trưởng Thích Nữ Tâm Hoa thế độ. Năm 1965 thọ Đại giới tại chùa Từ Nghiêm, Sài Gòn, do Sư bà Diệu Ấn, pháp hiệu Đàm Hương làm Đường đầu. Học tại trường Bồ Đề Quy Nhơn, có bằng Trung học Đệ Nhất cấp, vào Sài Gòn học Sư phạm rồi dạy tại trường Diệu Hạnh. Năm 1975 về Tâm Ấn. Năm 1989 về làm trụ trì chùa Tăng Quang.
Đệ tử có ba Tỳ Kheo Ni, trong đó có 2 vị đã tốt nghiệp trường Cơ bản Phật học Bình Định tại tu viện Nguyên Thiều khóa I.

1 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here