Chùa Trấn Quốc – Hà Nội

0
81
  • Tên gọi : Chùa Trấn Quốc, chùa Khai Quốc.
  • Tọa lạc : Thanh Niên, Yên Phụ, Tây Hồ, Hà Nội 
  • Năm xây dựng : Thời Lý Nam Đế ( 503 – 548)
  • Người xây dựng : Lý Nam Đế.

Chùa Trấn Quốc hiện ở Hà Nội, cạnh đường Thanh Niên, sát – Hồ Tây, là ngôi chùa cổ vào bậc nhất và đẹp nhất ở nước ta, do vị thế và quang cảnh của nó. Có ý kiến cho chùa xưa ở bãi An Hoa, giáp sông Hồng, dựng từ 2 Lý Nam Đế (544-548), gọi là chùa Mai Chuối. Cái An gọi ấy làm ta nhớ đến nước Vạn Xuân, là nhà nước đi lập đầu tiên của ta, nằm thế kỷ sau thời Bà Tưng. Sách Thăng Long cổ tích khảo lại cho rằng: đến năm đầu thế kỷ XI, Lý Thường Kiệt xây dựng lại chùa, mới lấy tên là chùa Trấn Quốc. Năm Hoàng Định 16 (1615) bãi sông bị lở, chùa được dời tới làng Yên Phụ, dựng trên nền cũ điện Hàm Nguyên đời Trần, cũng là nền cũ cung Thuý Hoa đời Lý. Năm 1624, sau khi đắp con để “cố ngự” (có nghĩa là giữ cho chắc chắn), thường đọc chệch ra là đô Cổ Ngư, dân làng An Hoa đã xây dựng thêm thượng điện nhà thiêu hương, khơi mào chung quanh, mở đường đi. Năm Dương Hoà thứ 5, chúa Trịnh Tráng cho sửa lại tam quan, xây hai bên tả hữu, làm cho chùa có quy mô | rộng rãi, đẹp đẽ, xứng đáng là một thắng cảnh bậc nhất ở đất Thần Kinh. Năm 1844, đời nhà Nguyễn, vua Thiệu Trị ra thăm chùa, đổi tên là Trấn Bắc, và cho treo một tấm hoành phi là Trấn Bắc tự trên nhà chuông. Nhưng dân chúng cho đến bây giờ vẫn cứ gợi cái tên là Chùa Trấn Quốc.

Chùa có nhiều tấm bia quý, mô tả đầy đủ việc hưng công tu tại chùa qua các thời đại, và ghi. một số quá trình sinh hoạt ở nhà chùa. Nhiề, danh tiếng trong lịch sử đã trụ trì ở đây n Khuông Việt (thời Đinh Lê). Thái hậu Ý Lan cũ tới đây cùng với các nhà sư kê cứu đạo Phật. Chùa có. nhiều tượng quý giá, đặc biệt là bộ Tam Thế – Niết bàn. Các nhà thơ nhà văn đều có thơ ca câu để lại như Hồ Xuân Hương, Vũ Phạm Hàm. Chùa có một vườn tháp lớn với rất nhiều tháp. Trước , chùa có câu đối nôm:

Vang tai xe ngựa qua đường tục

Mở mặt non sông đứng của thiên

Giữa sân chùa, lại trồng cây bồ đề, do Tổng | thống Ấn Độ mang sang, tặng tận tay cho Hồ Chủ tịch, được Chủ tịch cho đưa về đây năm. Người còn tự hào với hai tấm bia:

– Bia năm 1639 do trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính soạn, cho biết chùa nay đứng vào hàng thứ tư trong các ngôi chùa ở Việt Nam.

– Bia năm 1815 do tiến sĩ Phạm Quý Thích, vị thấy đạo cao đức trọng của cả nước lúc bấy giờ SOẠI Lời bia rất đặc sắc:

… Tịch nào không cảm

Hồ nào không thiêng

Trăng lồng đáy nước

Soi tỏ chân như…

Theo sách chùa Cổ Việt Nam


BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên đăng nhập