Hòa Thượng Pháp Kiêm – Minh Giác

0
25

Trụ Trì Chùa Phước Lâm – Hội An

Hòa thượng thế danh Võ Đức Nghiêm, sinh vào giờ Tuất ngày 15 tháng 1 năm Đinh Mão (1747) nhằm vào năm Cảnh Hưng thứ 8 đời vua Lê Hiển Tông    (theo sử Đàng Trong thì thuộc năm thứ 10 đời chúa Võ Vương – Nguyễn Phúc Khoát ) tại thôn Ngọc Trì, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.(nay thuộc huyện Bình Sơn-Quảng Ngãi). Tuy tuổi đồng ấu nhưng Ngài đã biểu hiện sự thông tuệ khác người, tính thích sự yên tỉnh, trầm mặc, ít nói cười khác hẳn mọi đứa trẻ cùng trang lứa. Đặc biệt khi còn tuổi hài đề Ngài đã sớm biết niệm Nam Mô Phật, thể hiện chí nguyện thoát tục của mình.
Năm Kỷ Mão (1759), khi vừa tròn 12 tuổi, Ngài xin phép song thân lên đường tầm sư học đạo. Nghe nói có thiền sư Ân Triêm, trú trì chùa Phước Lâm-Hội An là bậc cao tăng đắc đạo nên Ngài tìm đến tham lễ và xin xuất gia học đạo. Thấy Ngài tuổi nhỏ nhưng khí độ khác người nên Tổ  hoan hỷ nhận làm đồ đệ, ban cho pháp danh  Pháp Kiêm, tự Luật Oai. Như vậy Ngài thuộc đời thứ 36 thiền phái Lâm Tế và cũng là thế hệ thứ 3 pháp phái Chúc Thánh theo bài kệ truyền thừa của tổ sư Minh Hải Pháp Bảo.
Sau khi xuất gia, Ngài dốc chí theo thầy học đạo. Với một bình bát, một ca sa, Ngài sống đời giản dị, sớm tối tham thiền, nghiên tầm kinh điển. Tuy còn trẻ tuổi nhưng vốn tính thông tuệ khác người, cộng với sự tu hành thực chứng của bản thân nên Ngài thấu suốt được nghĩa lý Tam Thừa-Nhị Đế khiến cho khắp chốn Tòng Lâm đều mến mộ.
Năm Canh Dần (1770), sau hơn 10 năm tu tập tại Phước Lâm, Ngài xin về làng thăm viếng song thân. Lúc bấy giờ giặc mọi Đá Vách lại tập trung đồ đảng quấy nhiễu cướp phá khắp tỉnh Quảng Ngãi, Ngài tòng quân dưới quyền chỉ huy của Cai bạ Trần Phúc Thành [1] đánh dẹp loạn phỉ, đem lại sự bình yên cho quê hương. Trong quân ngũ, Ngài lập được nhiều chiến công nên dần dần được thăng lên chức chỉ huy. Lúc bấy giờ phong trào Tây Sơn đang phát khởi, khắp nơi loạn ly, bao nhiêu biến động của đất nước càng khiến cho Ngài thấy rõ hơn tuồng ảo hóa của cuộc sống, mùi công danh phú quý như gió thoảng mây trôi làm sao lay động được tâm hồn của bậc Đại Sĩ. Thế là Ngài âm thầm treo ấn từ quan, sau khi dặn dò mọi việc trong thân tộc Ngài trở lại Hội An tiếp tục chí nguyện lúc ban đầu của mình.

Về Hội An, Ngài phát nguyện quét chợ 20 năm để sám hối tội lỗi đã gây ra trong chiến tranh. Quét chợ để làm sạch cảnh trần ai và cũng là quét sạch mọi cấu bẩn trong tâm, dọn mình khiết tịnh để tiến lên bờ giác.
Trong nhật dụng, tám cấu đều không, chúng vui đón cơn gió mát
Trên đường đi, một trần không nhiễm, người mừng uống được nước trong.
Trong suốt 20 năm trời ròng rã, dù cho Đông-Hạ tiết trời khắc nghiệt nhưng Ngài vẫn không sờn lòng, miệt mài với hạnh nguyện của mình một cách rất đều đặn, miên mật không gián đoạn. Buổi sáng và chiều Ngài cầm chổi quét chợ, trưa ôm bình bát khất thực và tối nghỉ tại chợ, tham thiền niệm Phật cho đến nửa đêm mới đặt lưng xuống chiếu.
Hơn 20 năm Ngài sống lăn lộn trong cõi trần ô nhiễm nhưng tâm vẫn thanh tịnh, không mảy may dao động trước cảnh sắc không của cuộc đời. Với đạo hạnh thâm sâu như vậy, Ngài được Tăng tín đồ tại Phố Hội cũng như mọi nơi mến mộ và xem như bậc Bồ Tát hiện thân.
Năm Mậu Ngọ (1798), sau khi công hạnh đã viên mãn, Ngài được Chư Sơn cũng như tín đồ thỉnh về trụ trì chùa Chiên Đàn và tôn hiệu là Minh Giác Hoà Thượng. Trong tờ biểu tôn xưng có nói: “ Phật là giác giả, Hòa thượng có tính thông tuệ, tự cho con đường tình duyên danh lợi đã 20 năm nay như đem dao cắt đứt hẳn, coi giống cát sông bọt nổi. Lại đem mình ở nơi thị tỉnh chịu đựng bụi trần nhọc lòng khổ chí để giữ vững tâm niệm nhập đạo mà thành tựu tấm thân chứng đạo. Đã hay tự mình khai giác hết thảy những người có tình như chiêm bao thức giấc vậy. Trong điển Phật có nói: Tự mình biết, bảo cho người khác biết, đó là có ý nghĩa đầy đủ tiếng khen về biết rõ cả”.
Chùa Phước Lâm là nơi Ngài xuất gia từ tấm bé đang rơi vào cảnh hoang tàn do chiến tranh gây ra. Sau khi trở lại hình thức tu sĩ,  Ngài trở về chùa xưa cùng với thiền sư Pháp Ấn-Quảng Độ quyên mộ vàng bạc, tạo tượng, đúc chuông v.v… xây dựng Phước Lâm thành một ngôi Tùng Lâm nguy nga tráng lệ-một trong những danh lam nổi tiếng của đất Quảng.
Sau khi trùng tu lại chùa, Ngài kế thế trụ trì Phước Lâm [2]. Từ đó, Ngài gióng Pháp Cổ, khai đàn giảng kinh thuyết pháp, tiếp tục thắp sáng ngọn đèn chánh pháp làm cho Phật giáo ngày càng hưng thịnh.
Năm Mậu Dần (1818), thiền sư Toàn Đức-Hoằng Tông trùng tu chùa Vạn Đức và đúc đại hồng chung dưới sự chứng minh của Ngài. Ngày 27 tháng 5 năm Tân Tỵ (1821), Minh Mạng năm thứ 2, Ngài được triều đình mời ra tham dự đại trai đàn tổ chức tại chùa Thiên Mụ-Huế.
Năm Nhâm Ngọ (1822) và Canh Dần (1830), Ngài đứng ra quyên mộ và chứng minh đúc hai quả đại hồng chung tôn trí tại chùa Phước Lâm và chùa Hải Tạng để sớm tối tiếng chuông ngân nga thức tỉnh nhân thế. Hiện nay, ba quả chuông này vẫn còn tại các chùa, điều này là một sự chứng minh cụ thể công đức hoằng hóa của Ngài thật vô cùng to lớn.
Hòa thượng là người tính tình chất trực thẳng thắn, điều này được thể hiện qua bản phú chúc cho đệ tử là Toàn Định Bảo Tạng như sau: “… Lời ta thẳng như thước dây, nặng như vàng đá, nếu có kẻ ương ngạnh vi phạm, hoặc trong chúng có kẻ bất tuân, cứ theo pháp mà trừng trị để về sau đại chúng được an hòa…”
Mùa Đông năm Canh Dần, Ngài biết thời tiết nhân duyên đã đến nên gọi đồ chúng lại dặn dò khuyến tấn, ấn chứng cho đệ tử Toàn Nhâm-Quán Thông kế thừa y bát trú trì chùa Phước Lâm và an nhiên thị tịch vào giờ Tý ngày mồng 10 tháng 11 năm Canh Dần (1830) hưởng thọ 84 tuổi. Thiền sư Toàn Nhâm-Quán .

Thông cùng môn đồ cung thỉnh nhục thân Ngài nhập bảo tháp trong khuôn viên chùa Phước Lâm.
Một Hòa thượng tại Huế đã xưng tán, tóm lược cả cuộc đời hành đạo và công đức của Ngài qua hai câu đối thờ như sau:
– Bình Man, tảo thị, lưỡng độ gian lao, xuất gia kỳ, phát nguyện vưu kỳ, bát dật sanh thiên thành chánh giác.
– Tạo tự, chú chung, nhị thung công đức, cách cựu hảo, đảnh tân cố hảo, thiên thu giác thế vĩnh truyền đăng.
Tạm dịch:
– Dẹp giặc, quét chợ, mấy độ gian lao, xuất gia lạ, phát nguyện càng thêm lạ, tám mươi vãng sanh thành chánh giác.
– Làm chùa, đúc chuông, biết bao công đức, sữa cũ đẹp, làm mới lại càng đẹp, ngàn năm sáng mãi ngọn đèn thiền.
Nhìn lại cuộc đời của Ngài, sinh ra trong giai đoạn đất nước nhiễu nhương, lòng dân ly tán nhưng Ngài vẫn luôn giữ vững tâm đạo của mình. Hạnh nguyện của Ngài quả thật là vô tiền khoáng hậu trong dòng sử Phật Việt. Tiếng chổi quét chợ năm xưa ngừng đã lâu nhưng pháp âm mãi vẫn còn vang vọng. Những lời pháp vô ngôn nhưng đi sâu vào trong lòng người một cách thiết thực. Nhập thế tích cực nhưng tâm không gợn một mảy bụi trần. Ngày nay người dân Phố Hội vẫn còn nhắc đến Ngài với cái tên dung dị: Tổ Bình Man Tảo Thị.
Bị chú:

[1]. Theo Đại Nam Thực Lục (NXB Giáo Dục-2002) trang 174 ghi rằng: Năm Canh Dần (1770) chúa Võ Vương-Nguyễn Phúc Khoát cử Trần Phúc Thành làm cai bạ, tuần hành 5 phủ  (Thăng Bình, Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên) và sai Phúc Thành đem quân đi dẹp giặc Ác Man hay còn gọi là Mọi Đá Vách. Căn cứ vào sử liệu này và những mốc niên đại của cuộc đời Ngài Pháp Kiêm, ta có thể khẳng định giai đoạn Ngài tòng quân dẹp giặc Mọi Đá Vách vào khoảng năm 1770 dưới quyền chỉ huy của Cai bạ Trần Phúc Thành. Còn việc Ngài được phong chức chỉ huy thì chưa xác định được Ngài làm đến chức gì.
[2]. Năm 1796 tổ Ân Triêm viên tịch. Lúc bấy giờ ngài Pháp Kiêm-Luật Oai còn đang thực hành hạnh nguyện tại chợ Hội An. Vì thế ngài Pháp Ấn- Quảng Độ kế vị trú trì chùa Phước Lâm. Năm 1798 ngài Pháp Kiêm trở lại đời sống xuất gia và cùng với ngài Pháp Ấn trùng tu lại chùa Phước Lâm. Sau đó có lẽ ngài Pháp Ấn trao lại sứ mệnh trụ trì Phước Lâm cho ngài Pháp Kiêm và về trụ trì chùa Viên Tông (sau cải đổi lại là Diệu Giác) tại Bình Sơn, Quảng Ngãi và viên tịch tại đây. Tháp mộ Ngài vẫn còn tại chùa Diệu Giác.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here