Hòa Thượng Thiệt Dinh – Ân Triêm

0
27
  • Tên gọi : Tên thật Lê Hiển ,Hòa Thượng Thiệt Dinh – Ân Triêm.
  • Giai đoạn : sinh  Nhâm Thìn ( 1712 – 1796 ).
  • Quê quán : xã Bến Đền, phủ Điện Bàn, dinh Quảng Nam. (nay là xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).

Khai Sơn Chùa Phước Lâm – Hội An

Tương truyền rằng mẹ Ngài một đêm nằm mộng thấy con trâu chọc sừng chui vào bụng, bà bắt đầu thọ thai. Từ khi mang thai, bà cảm thấy nhàm chán những thức ăn thịt cá, chỉ dùng toàn chay tịnh và sau đó sanh ra Ngài.
Chủng tử Phật tánh của Ngài sâu dày đã hiện rõ ngay thuở thiếu thời, từ khi lọt lòng mẹ cho đến tuổi đồng ấu Ngài chỉ ăn chay. Mẹ có cho món ăn mặn thì Ngài đều từ chối. Có hôm, mẹ Ngài thương con gắp thịt để dưới chén rồi bới cơm lên trên và đưa cho Ngài ăn. Nhưng với linh tính nên Ngài không dùng chén cơm ấy. Biết con có duyên với cửa Thiền nên khi vừa tròn 10 tuổi, cha mẹ đã đưa Ngài đến chùa Chúc Thánh thọ giáo với thiền sư Minh Hải-Pháp Bảo. Thấy Ngài đỉnh ngộ  khác người, Tổ biết là người có đạo cốt, tương lai có thể làm rạng rỡ cho Phật pháp nên thâu nhận làm đồ đệ.
Ngài tính tình ôn hòa, trí căn nhạy bén cộng thêm sự tinh tấn tu học nên không bao lâu đã nhận được lẽ huyền vi của đạo. Đến năm 20 tuổi, Ngài được tổ Minh Hải cho thọ giới Cụ túc với pháp danh Thiệt Dinh, tự Chánh Hiển, hiệu  Ân Triêm. Như vậy, Ngài nối pháp đời 35 dòng Lâm Tế và thế hệ thứ 2 của pháp phái Chúc Thánh.
Năm 25 tuổi, Ngài xin tổ Minh Hải ra lập thảo am Phước Lâm tại ấp Trảng Kèo, xã Thanh Hà, phủ Điện Bàn (Nay là phường Thanh Hà-Thị xã Hội An) để tiện việc tu niệm.
Năm Bính Dần (1746) vào ngày mồng 7 tháng 11, tổ sư Minh Hải viên tịch. Trước lúc viên tịch, Tổ đã ân cần phó chúc, truyền trao y bát ấn chứng cho Ngài làm tổ kế thừa đời thứ 2 dòng thiền Chúc Thánh.
Với sự ấn chứng của Bổn sư cũng như sự nổ lực tự thân, không bao lâu, hương thơm giới hạnh của Ngài lan khắp mười phương và đồ chúng theo về tu học ngày càng đông đảo, dần dần tịnh thất Phước Lâm trở thành một Tùng Lâm nguy nga tại Xứ Quảng.
Sau hơn 50 năm khai sáng và hành đạo tại Phước Lâm, Ngài thấy cơ duyên đến đây đã mãn nên tập họp đồ chúng cũng như thân hào xã Bến Đền và thân tộc đến rồi hỏi:
– Sau khi tôi viên tịch, hài cốt của tôi giao cho ai?
Đại diện thân hào xã Bến Đền thưa:
– Ngài là người của bản xã, nhưng đã xuất gia theo đạo Phật, nay Ngài trở thành người của đạo thì nên giao linh cốt của Ngài cho môn đồ đệ tử là đúng.
Đại diện tộc Lê cũng đồng nhất quan điểm như vậy.
Sau khi thu xếp mọi việc và ấn chứng cho đệ tử Pháp Ấn kế thế trụ trì Phước Lâm, Ngài viên tịch vào ngày mồng 24 tháng 4 năm Bính Thìn (1796) thọ 85 tuổi. Đồ chúng xây bảo tháp tại phía Tây Nam chùa Phước Lâm để phụng thờ linh cốt của Ngài.
Nhìn lại cuộc đời của Ngài thì quả thật là hy hữu. Hơn 60 năm tu hành và hoằng dương Phật pháp, Ngài đã kế thừa nghiệp Tổ thắp sáng ngọn đèn chánh pháp và làm cho Phật giáo Quảng Nam ngày một hưng thịnh. Trong lịch sử phát triển và truyền thừa của dòng thiền Chúc Thánh thì tổ đình Phước Lâm dưới sự hướng dẫn hoằng hóa của Ngài đóng một vai trò hết sức quan trọng. Nếu tổ đình Chúc Thánh là cái nôi của môn phái thì Phước Lâm là trung tâm truyền giáo chính thức. Bởi lẽ nơi đây Ngài đã đào tạo một thế hệ kế thừa như các ngài: Pháp Ấn Tường Quang Quảng Độ: trụ trì chùa Phước Lâm-Hội An và Viên Tôn tại Bình Sơn-Quảng Ngãi; Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm: khai sơn chùa Từ Quang-Phú Yên; Pháp Kiêm Luật Oai Minh Giác còn gọi là tổ Bình Man Tảo Thị: trụ trì chùa Phước Lâm-Hội An; Pháp Tịnh Luật Phong Viên Quang: khai sơn chùa Thiên Hòa-Tuy Phước-Bình Định v.v…đã làm rạng danh Phật giáo xứ Quảng và thiền phái Chúc Thánh. Từ Phước Lâm, các Sứ giả Như Lai đã lên đường đem ánh sáng của chánh pháp đến với các tỉnh ở Đàng Trong như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên… và những hạt giống ấy ngày càng lên xanh tốt đúng như ý nghĩa Phước Lâm mà Ngài đã chọn.

Vai trò của Tổ đình Phước Lâm trong sự phát triển thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh

a. Tại Quảng Nam:

Quảng Nam là nơi phát tích của Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh và chùa Chúc Thánh là Tổ đình chính. Tuy nhiên, trong vấn đề hoằng dương Phật pháp và phát triển môn phái thì Tổ đình Phước Lâm đóng vai trò then chốt. Điều này chúng ta thấy được qua sự truyền thừa như sau:

Sau khi Tổ Ân Triêm viên tịch, các ngài Quảng Độ và Minh Giác kế thế trụ trì Phước Lâm. Ngài Minh Giác có một đệ tử ưu tú là ngài Toàn Nhâm Vi Ý Quán Thông. Ngài Quán Thông trụ trì đời thứ 4 Tổ đình Phước Lâm, kiêm trụ trì Tổ đình Chúc Thánh, nối pháp đời 37 Lâm Tế thuộc thế hệ thứ 4 pháp phái Chúc Thánh. Ngài đã đào tạo được nhiều vị đệ tử xuất sắc đảm nhận việc hoằng hóa khắp tỉnh Quảng Nam như: Chương Tư Tuyên Văn Huệ Quang, Chương Quảng Tuyên Châu Mật Hạnh, Chương Tín Hoằng Ân hoằng hóa tại Ngũ Hành Sơn; Chương Nhẫn Tuyên Hòa Quảng Hóa trụ trì đời thứ 5 Tổ đình Phước Lâm; Chương Đạo Tuyên Tùng Quảng Viên, Chương Khoáng Tuyên Điền Chứng Đạo trụ trì chùa Chúc Thánh; Chương Chất Tuyên Chiếu Quảng Thành, Chương Đàn Tuyên Khai Huyền Đạt, Chương Lý Tuyên Sư Trí Quang hoằng hóa tại chùa Cổ Lâm-Đại Lộc. Đặc biệt trụ trì đời thứ 6 Tổ đình Phước Lâm là thiền sư Ấn Bổn Tổ Nguyên Vĩnh Gia, một bậc cao tăng lừng danh thời Nguyễn. Tại đây, Ngài đã tác thành đạo nghiệp cho các ngài: Ấn Nghiêm Tổ Thân Phổ Thoại (khai sơn chùa Long Tuyền); Ấn Bính Tổ Thuận Phổ Bảo, Chơn Chứng Đạo Tâm Thiện Quả (trụ trì chùa Chúc Thánh); Chơn Thể Đạo Viên Phổ Minh, Chơn Kiết Đạo Tường Phổ Hóa (chánh phó trụ trì Phước Lâm); các ngài Chơn Sâm Đạo An Phổ Truyền, Chơn Huệ Đạo Nhật Phổ Trí vào lập chùa Văn Thánh – Sài Gòn; ngài Chơn Phước Đạo Bích Hoằng Thọ sang Camphuchia khai sơn chùa Thanh Quang. Đến thời hiện đại, các vị tôn túc như: cố Hòa thượng Thích Trí Giác, cố Hòa thượng Thích Long Trí, cố Hòa thượng Thích Như Vạn, Hòa thượng Thích Như Huệ cũng đều có thời gian tu học và hoằng hóa tại Phước Lâm. Hiện tại chư vị tôn túc xuất thân từ Phước Lâm đang hành đạo tại tỉnh nhà như các Thượng tọa Thích Hạnh Thiền (trụ trì Tổ đình Vạn Đức-Hội An); Thượng tọa Thích Hạnh Hoa (trụ trì Tổ đình Phước Lâm – Hội An); Thượng tọa Thích Hạnh Nhẫn (trụ trì chùa Minh Giác – Hội An); Thượng tọa Thích Hạnh Trí (trụ trì chùa Ân Triêm – Duy Xuyên), Thượng tọa Thích Đồng Mẫn (Trụ trì Tổ đình Chúc Thánh). Tại Đồng Nai thì có các vị như: Thượng tọa Thích Quảng Hạnh (trụ trì chùa Đức Sơn – Đại Tùng Lâm), Thượng tọa Thích Hạnh Đức (nguyên trụ trì chùa Sơn Linh – Bà Rịa Vũng Tàu), Thượng tọa Thích Minh Đạt (Chùa Đại Tòng Lâm – Bà Rịa), v.v.…Tại hải ngoại thì có các Thượng tọa Thích Như Điển (Phương trượng chùa Viên Giác – Đức quốc) Thượng tọa Thích Hạnh Tuấn, v.v.…Tất cả các vị tôn túc này đều có thời gian tu học tại Phước Lâm vào những thập niên 60-70 thế kỷ XX dưới sự hướng dẫn của cố Hòa thượng Thích Như Vạn.

Như vậy, Tổ đình Phước Lâm đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của môn phái Chúc Thánh tại Quảng Nam. Không những vậy, các thế hệ tăng nhân Phước Lâm đi khắp các tỉnh thành xiển dương tông chỉ của Tổ.

b. Tại Quảng Ngãi:

Hai vị đệ tử Tổ Minh Hải đến Quảng Ngãi đầu tiên là ngài Thiệt Úy Chánh Thành Khánh Vân khai sơn chùa Liên Tôn và ngài Thiệt Uyên Chánh Thông Chí Bảo khai sơn chùa Bảo Lâm. Sau đó, ngài Khánh Vân lên kế thế trụ trì chùa Thiên Ấn khi Tổ khai sơn là ngài Phật Bảo Pháp Hóa viên tịch. Từ đó, Thiên Ấn truyền thừa theo bài kệ của Tổ Minh Hải và trở thành Tổ đình của môn phái Chúc Thánh tại Quảng Ngãi.

Tuy nhiên, sự truyền thừa của các ngài Khánh Vân và Chí Bảo cho đến nay vẫn chưa có một sử liệu cụ thể. Đến Tổ thứ 3 của Thiên Ấn là ngài Toàn Chiếu Trí Minh Bảo Ấn thì môn phái dần phát triển. Tổ thứ 4 Thiên Ấn là ngài Chương Khước Tông Tuyên Giác Tánh có các vị đệ tử xuất sắc ra khai sơn các chùa như: ngài Ấn Tham Tổ Văn Hoằng Phúc (đời 39) khai sơn chùa Quang Lộc; ngài Ấn Kim Tổ Tuân Hoằng Tịnh (đời 39) khai sơn chùa Phước Quang; ngài Ấn Lãnh Tổ Tòng Hoằng Thạc (đời 39) khai sơn chùa Thạch Sơn; ngài Ấn Tịnh Tổ LiênHoằng Thanh (đời 39) khai sơn chùa Cảnh Tiên; ngài Ấn Cứ Tổ Đắc Hoằng Tri (đời 39) khai sơn chùa Từ Quang. Các thế hệ pháp tôn đời 40, 41 thì có các ngài như: Chơn Sử Đạo Thị Khánh Tín (đời 40) khai sơn chùa Thọ Sơn; ngài Chơn Trung Đạo Chí Diệu Quang (đời 40) khai sơn trùng kiến các chùa như Bảo Lâm, Viên Giác, Khánh Vân, Kim Tiên … ngài Chơn Miên Đạo Long Trí Hưng (đời 40) khai sơn chùa Từ Lâm, ngài Như Bình Giải An Huyền Tịnh (đời 41) khai sơn chùa Từ Quang, v.v. Tất cả đã tạo nên một hệ thống các chùa thuộc môn phái Chúc Thánh có sự sinh hoạt rất chặt chẽ.

Căn cứ vào pháp quyển của Tổ đình Từ Lâm – Quảng Ngãi thì ta thấy sự truyền thừa như sau:

– Đời 34, húy thượng Minh hạ Hải, tự Đắc  Trí, hiệu Pháp Bảo Hòa thượng.

– Đời 35, húy thượng Thiệt hạ Dinh, tự Chánh Hiển, hiệu Ân Triêm Hòa thượng.

– Đời 36, húy thượng Pháp hạ Liêm, tự Luật Oai, hiệu Minh Giác Hòa thượng.

– Đời 37, húy thượng Toàn hạ Chiếu, tự Trí Minh, hiệu Bảo Ấn Hòa thượng.

– Đời 38, húy thượng Chương hạ Khước, tự Tông Tuyên, hiệu Giác Tánh Hòa thượng.

– Đời 39, húy thượng Ấn hạ Lãnh, tự Tổ Tòng, hiệu Hoằng Thạc Hòa thượng.

– Đời 40, húy thượng Chơn hạ Miên, tự Đạo Long, hiệu Trí Hưng Hòa thượng.

Căn cứ vào pháp quyển này, ta có thể khẳng định thiền sư Toàn Chiếu Trí Minh Bảo Ấn là đệ tử xuất gia hoặc là đệ tử cầu pháp của Tổ Pháp Liêm Luật Oai Minh Giác tại Tổ đình Phước Lâm – Hội An. Như vậy, sự phát triển của dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại Quảng Ngãi cũng đều xuất phát từ Phước Lâm.

c. Tại Bình Định:

Bình Định, mảnh đất giữa miền Trung nước Việt, nơi đây đã vinh dự đón nhận những bước chân đầu tiên của vị Tổ sư dòng Lâm Tế đến Đàng Trong hoằng hóa. Các vị thiền sư đầu tiên của pháp phái Lâm Tế Chúc Thánh đến đất Bình Định là ngài Thiệt Thuận Chánh Mạng Huệ Trương khai sơn chùa Linh Sơn – Phù Cát; Ngài Thiệt Đăng Chánh Trí Bửu Quang khai sơn chùa Sơn Long – Quy Nhơn. Cả hai vị đều là đệ tử của Tổ sư Minh Hải, thuộc đời 35 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Tiếp đến, ngài Pháp Tịnh Luật Phong Viên Quang, đời 36 Lâm Tế Chúc Thánh (đệ tử Tổ Thiệt Dinh ở Phước Lâm-Hội An) vào khai sơn chùa Thiên Hòa. Đời 37 có các ngài Toàn Ý Vi Tri Phổ Huệ khai sơn chùa Phổ Bảo; Toàn Tín Vi Tâm Đức Thành khai sơn chùa Khánh Lâm (cả hai vị là đệ tử Tổ Pháp Liêm tại Phước Lâm – Hội An); ngài Toàn Thể Vi Lương Linh Nguyên khai sơn chùa Long Tường (đệ tử Tổ Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm  chùa Từ Quang – Phú Yên). Đời 38, các vị đệ tử Tổ Toàn Ý ra khai sơn các chùa như: ngài Chương Nhẫn Tuyên Tâm Từ Nhơn trụ trì Tổ đình Phổ Bảo; Chương Lý Hoằng Hóa khai sơn chùa Diêu Phong; Chương Hiệp Tuyên Thủ Chánh Trì khai sơn chùa Huỳnh Long; Chương Thiện Tuyên Giác Hoằng Đạo khai sơn chùa Phổ Quang; Chương Hải Tuyên Thâm Thanh Nguyên khai sơn chùa Thiên Trúc; Chương Trí Tuyên Huệ Quảng Giác khai sơn chùa Hưng Khánh, Chương Nghĩa Tuyên Đức Thanh Tuyền trụ trì Tổ đình Sơn Long, v.v. Từ đó tạo nên một hệ thống các chùa thuộc dòng Chúc Thánh có sự liên hệ sinh hoạt chặt chẽ.

Như vậy, tại Bình Định các thiền sư xuất thân từ Tổ đình Phước Lâm đã đảm nhận trách nhiệm xiển dương tông môn Chúc Thánh. Đặc biệt là Tổ Toàn Ý đã đào tạo được 7 vị đệ tử thượng túc ra khai sơn đảm nhiệm 7 ngôi chùa và từ đây pháp phái truyền khắp lan tỏa đến mãi ngày hôm nay.

d. Tại Phú Yên:

Vị Tổ đầu tiên của dòng Chúc Thánh đến Phú Yên là thiền sư Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm là đệ tử của Tổ Ân Triêm tại Phước Lâm, thuộc đời 36 Lâm Tế, thế hệ thứ 3 pháp phái Chúc Thánh. Sau một thời gian hoằng hóa, Ngài khai sơn chùa Từ Quang – Đá Trắng vào năm Đinh Tỵ (1797). Từ đó, chùa Từ Quang trở thành Tổ đình của dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại Phú Yên.

Từ Tổ đình Từ Quang, các đệ tử của ngài Pháp Chuyên khai sơn các chùa trong tỉnh như sau: Ngài Toàn Đức Vi Cần Thiệu Long khai sơn chùa Khánh Sơn; Ngài Toàn Nghĩa Vi Hội Chơn Như khai sơn chùa Thượng Tiên Thọ Vân; Ngài Toàn Nhật Vi Bảo Quang Đài trụ trì chùa Viên Quang; Ngài Liễu Năng Đức Chất khai sơn chùa Phước Sơn; Ngài Liễu Diệu Chánh Quang khai sơn chùa Triều Tôn, v.v. Từ đó, dòng Chúc Thánh có mặt tại Phú Yên, phát triển và hưng thịnh. Các thế hệ sau như các ngài: Chương Niệm Tôn Trực Quảng Giác, Chương Tánh Tôn Tiên Quảng Nhuận, Chương Từ Quảng Niệm, Chương Như Tôn Chí Từ Ý, Ấn Chánh Tổ Vũ Huệ Minh, Ấn Thiên Tổ Hòa Huệ Nhãn, Ấn Như Tổ Nguyện Huệ Hương, Chơn Tín Đạo Thành Pháp Hỷ, Chơn Chánh Đạo Tâm Pháp Tạng, Chơn Thành Đạo Đạt Pháp Hỷ, Như Đắc Giải Tường Thiền Phương, v.v. có công rất lớn trong việc in khắc kinh điển truyền bá tông chỉ của Tổ. Từ nơi đây, chư vị Tổ sư lần lần hoằng truyền vào Nha Trang, Ninh Thuận, Bình Thuận. Các vị thiền sư Chơn Kim Pháp Lâm (đời 40) từ Phú Yên ra trụ trì chùa Viên Thông – Huế: ngài Chơn Tâm Đạo Tánh Pháp Thân ra khai sơn chùa Phước Huệ – Huế đã góp phần phát triển môn phái tại đất Thần Kinh. Các vị danh tăng cận đại như: Bồ tát Thị Thủy Hạnh Pháp Quảng Đức, Hòa thượng Thị An Hạnh Trụ Phước Bình, Hòa thượng Thị Chí Hạnh Thiện Phước Hộ, v.v. đều thuộc môn phái Chúc Thánh thuộc chi phái Phú Yên.

Như vậy, sự có mặt và phát triển của môn phái Chúc Thánh tại Phú Yên đều nhờ vào công lao giáo hóa của thiền sư Diệu Nghiêm, là đệ tử Tổ Ân Triêm tại Phước Lâm. Sự đa văn quảng bác của thiền sư Diệu Nghiêm đã tạo một nền tảng căn bản cho tông môn tại Phú Yên. Tổ đình Từ Quang là một đạo tràng lớn quy tụ chư tăng các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định vào tham học. Đây được coi như chiếc nôi đào tạo tăng tài cho các tỉnh miền Trung vào những thế kỷ 18,19 và đầu thế kỷ 20.

Trên đây là sơ lược về sự phát triển của thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Đây là bốn tỉnh chính mà dòng Chúc Thánh được truyền bá rộng rãi và lâu đời nhất. Qua đó, chúng ta thấy được vai trò của các thiền sư xuất thân từ Phước Lâm đã đóng góp rất lớn trong sự hình thành và phát triển của môn phái Lâm Tế Chúc Thánh.

Tóm lại, thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh được khơi nguồn từ Tổ đình Chúc Thánh nhưng Tổ đình Phước Lâm đóng một vai trò chủ chốt trong sự phát triển của môn phái. Vì thế, các bậc tôn túc thường nói: “Chúc Thánh là chiếc nôi khai sinh, còn Phước Lâm là trung tâm truyền bá của môn phái”.

Qua sự tìm hiểu này, chúng ta càng khẳng định tầm quan trọng của ngôi Tổ đình thứ hai này của dòng Chúc Thánh. Mong rằng là con cháu của Tổ, mỗi chúng ta cùng một tâm nguyện trùng hưng lại chốn Tổ để chánh pháp xương minh, tông môn hưng thạnh.

 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here