Tiểu sử Hòa Thượng Như Huệ Hoằng Thông Khai Sơn Chùa Bạch Sa

0
21

Thiền sư Pháp danh Như Huệ, Pháp tự Thanh Nguyên, Pháp hiệu Hoằng Thông, còn có một hiệu nữa là Trí Quả, đời pháp thứ 41 kệ phái Minh Hải Pháp Bảo.
Theo tờ phái thế độ do Hòa thượng Chơn Tâm Phước Quang, trụ trì chùa Sơn Long, Tuy Phước, cấp ngày Rằm tháng 2 năm Tân Hợi (1911) thì Sư tên là Nguyễn Văn Tặng, sinh năm Giáp Ngọ (1894) tại thôn Vĩnh Định, tổng Xuân An, huyện Phù Cát, phủ Hoài Nhơn.

Hòa thượng Như Huệ Hoằng Thông.

Nhưng theo Độ Điệp của Bộ Lễ cấp ngày 19 tháng Chạp năm Bảo Đại thứ 7 (1932) thì Sư có tên là Nguyễn Độ, vào năm nầy thì Sư được 51 tuổi âm, tức sinh năm Nhâm Thân (1872) tại thôn Vĩnh An Định, tổng Háo Đức, phủ An Nhơn.
Như thế từ lúc nhỏ Sư có tên là Tặng, khi thành niên khai tên để ghi vào Đinh bạ là Độ, tuổi được đôn trong dịp nầy hoặc được quan địa phương hợp thức hóa cho đủ tuổi xin cấp bằng Tăng cang trước năm 1932. Vào thời điểm nầy (1932), thôn Vĩnh Định của Phù Cát đã nhập với thôn An Định của An Nhơn thành thôn Vĩnh An Định thuộc phủ An Nhơn. Nay để chính xác thì niên kỷ và quê quán nên theo tờ phái thế độ mà ghi là: Sư có tên thường gọi là Nguyễn Văn Tặng, tên đinh bạ là Nguyễn Độ, sinh năm Giáp Ngọ (1894) tại thôn Vĩnh Định thuộc huyện Phù Cát.

Căn cứ tờ phái thế độ thì năm 12 tuổi âm, tức năm Ất Tỵ (1905), Sư xuất gia tại chùa Sơn Long, Tuy Phước với pháp danh Như Huệ. Bốn năm sau, được Bổn sư là Hòa thượng Chơn Tâm Phước Quang làm lễ thế độ vào năm Canh Tuất (1910) với pháp tự Thanh Nguyên. Tiếp tục tu học 6 năm nữa mới được Bổn sư cho thọ Đại giới và phú pháp làm Đại sư vào năm Bính Thìn (1916) với pháp hiệu Hoằng Thông, hiện còn điệp Phú pháp cấp ngày tốt tháng 5 năm Bính Thìn (1916).
Năm Đinh Tỵ (1917), Ni sư Trừng Nga Giải Châu cúng cho Sư khoảng đất tại phường 3 thôn Cẩm Thượng, Quy Nhơn, Sư đến đó cùng bổn đạo địa phương kiến tạo ngôi Già lam, lạc thành và khai sơn đặt tên là Bạch Sa Tự vào năm Mậu Ngọ (1918).
Năm Đinh Mão (1927), Hòa thượng Trừng Chấn Chánh Nhơn chùa Long Khánh, Quy Nhơn mở trường Hương 3 tháng tại chùa nầy, Sư được mời làm Giáo thọ trong Ban giảng huấn do Quốc sư Phước Huệ làm Chủ giảng.
Năm Kỷ Tỵ (1929), Sư cầu pháp với Quốc sư Phước Huệ được Quốc sư phú pháp làm Đại sư với pháp hiệu Trí Quả, hiện còn điệp phú pháp cấp ngày Rằm tháng 2 năm Kỷ Tỵ (1929).
Năm Nhâm Thân (1932), Sư được triều đình cử làm Tăng cang chùa Bạch Sa, cấp 1 bản Độ điệp và thanh Giới đao. Độ điệp đề ngày 19 tháng Chạp năm Bảo Đại thứ 7 (1932) hiện còn, tờ thông tri sự vụ trên do Tổng đốc Bình Phú ký ngày 6 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 8 (1933) cũng còn, còn Giới đao được lưu giữ tại chùa Bạch Lộc. Cũng trong năm nầy, thể theo lời thỉnh cầu của ông Võ Chuẩn, huấn đạo tỉnh Kontum Ngài đã lên Kontum cử hành lễ Kỳ siêu và đặt đá khởi công xây dựng chùa Bác Ái.
Năm Đinh Sửu (1937), Sư được cung thỉnh làm Giáo thọ A-xà-lê tại giới đàn chùa Tịnh Lâm, Phù Cát do Hòa thượng Huyền Giác làm Đường đầu.
Năm Mậu Dần (1938), chùa Bạch Sa do Sư khai sơn được triều đình Ban sắc tứ. Biển sắc tứ không còn, chỉ còn tờ trích lục của Tổng đốc Bình Phú ký ngày 12 tháng 9 năm Bảo Đại thứ 13 (1938).

Từ năm 1938 đến năm 1954, Ngài hành đạo tại quê nhà và là một trong những vị Cao tăng của Bổn tỉnh, tích cực hoạt động trong phong trào chấn hưng Phật giáo.
Năm Giáp Ngọ (1954), quân đội viễn chinh Pháp ở chiến dịch Át-lăng từ thị trấn Sông Cầu, Phú Yên theo đường thủy tiến ra cửa biển Quy Nhơn rồi đổ bộ lên thành phố nầy. Ngài và tăng chúng trong chùa kịp thời tản cư lên trú tại chùa Lộc Hòa ở thôn Tấn Lộc, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước. Năm sau, đệ tử hồi cư nhưng Ngài vẫn ở chùa Lộc Hòa. Mấy năm sau, có người trong thôn là Phán Trấp đào ao nuôi cá trước chùa, phạm nhằm hướng chánh, Ngài bèn dời chùa lên đầu thôn gần quốc lộ 1, dựng thành sở mới, làm lễ khai sơn đặt tên là Bạch Lộc Tự, lấy hai chữ đầu của hai chùa Bạch Sa và Lộc Hòa ghép thành.
Năm 1968, Giáo hội tỉnh Bình Định mở giới đàn tại chùa Long Khánh đã cung thỉnh Ngài chứng minh cho Đàn giới này.
Vào ngày mồng 7 tháng 12 năm Nhâm Tý (1972), Ngài thị tịch, thế thọ 78 tuổi dương, 79 tuổi âm. Kim quan Ngài được nhập bảo tháp tại chùa Bạch Sa. Bia tháp và long vị ghi:
敕 賜 白 沙 寺 開 山 堂 上 敕 授 僧 綱 欽 頒 刀 牒 臨 濟 四 十 一 世 諱 如 慧 號 弘 通 大 老 和 尚 蓮 座.
Phiên âm:
Sắc Tứ Bạch Sa Tự Khai Sơn Đường Thượng Sắc Thọ Tăng Cang Khâm Ban Đao Điệp Lâm Tế Tứ Thập Nhất Thế Húy NHƯ HUỆ Hiệu HOẰNG THÔNG Đại Lão Hòa Thượng Liên Tòa.
Dịch nghĩa:
Tòa sen của Đại lão Hòa thượng Pháp danh Như Huệ, Pháp hiệu Hoằng Thông, được cấp bằng Tăng cang và ban Giới đao Độ điệp, đời pháp thứ 41 tông Lâm Tế, khai sơn chùa Bạch Sa được Sắc tứ.

Độ điệp Tăng Cang của Hòa thượng Hoằng Thông.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here